- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:23/2021/HS-ST Ngày: 16- 4- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;
2. Ông Lê Văn Rẽn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên toà: Ông Hồ Sơn Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1982 tại Thành Phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: không có hộ khẩu thường trú; Những nơi cư trú (tạm trú): 601/80 nay là 601/54C, Cách Mạng Tháng T, Phường 15, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh; (tạm trú): 4/2, tổ 5, khu phố 3, phường Tân Chánh H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1962; chồng: Trần Kim D, sinh năm 1978 (đã ly hôn), con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1997.
Địa chỉ: 49N, tổ 27, khu phố 3, phường Hiệp T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Anh Nguyễn Tâm Ngọc T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số 63/52 tổ 52, khu phố 4, phường Trung Mỹ T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 27/12/2020, tại nhà nghỉ Mai Vàng 2 thuộc khu phố 1, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã Lợi Thuận và Công an thị trấn Bến Cầu bắt quả tang Nguyễn Thị Hồng G đang cất giấu trong người 01 (một) bịch nilon trong suốt, hàn kín 03 (ba) đầu, 01 (một) đầu khóa bóp có viền đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) nên lập biên bản tạm giữ người và vật chứng.
Qua khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Hồng G tại nhà trọ không biển hiệu thuộc khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phát hiện và thu giữ 01 (một) ống thủy tinh, 01 (một) bình ga và 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hồng G do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 20 giờ ngày 26/12/2020, Nguyễn Thị Hồng G đi một mình từ nhà trọ thuộc khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh đến cầu vượt An Sương thuộc Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 01 (một) bịch ma túy giá 2.000.000 đồng để sử dụng. Sau khi nhận ma túy, G giấu bịch ma túy trên người và về nhà trọ. Đến khoảng 13 giờ ngày 27/12/2020, G điện thoại cho Nguyễn Thanh H nhờ chở đến nhà nghỉ Mai Vàng 2 gặp người đàn ông tên Chung bàn về việc mua bán gà đá để bán kiếm lời, H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 59G1-808.64 chở G đi, khi đến nhà nghỉ Mai Vàng 2 thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang G đang cất giấu bịch ma túy trên người.
Kết luận giám định số: 2024/KL-KTHS ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định: mẫu chất tinh thể rắn bên trong 01 (một) bịch nilon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền đỏ (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 9,6850 gam.
Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 09/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: số khung, số máy xe mô tô biển số 59G1-808.64 không bị đục sửa.
Ngày 27/12/2020, kiểm tra nồng độ chất ma túy, phát hiện Nguyễn Thị Hồng G, Nguyễn Thanh H có kết quả dương tính với chất ma túy (Methamphetamine).
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói niêm phong vụ số: 2024/KL-KTHS; 01 (một) gói niêm phong (kí hiệu M); 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobiistar, màu đỏ đen, số IMEL:352221122487735; 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đen, số IMEL1:35354456115968 /01; 01(một) xe mô tô biển số 59G1-80864, số máy: HC12E-6452912F, số khung: RLHHC1211DY452617; 01 (một) ví da màu nâu; 01(một) ly thủy tinh trong suốt, bên trong có 01 cái chum nhựa màu đen, phía trong cùng là 1/2 chai nhựa, có nắp màu đỏ, phía trên có gắn một ống nhựa màu trắng sọc vàng và một ống thủy tinh; 01 (một) bình gas hiệu Lighter gas; 01 (một) ống thủy tinh trong suốt.
Kê biên tài sản: Nguyễn Thị Hồng G không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh không kê biên tài sản.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Thị Hồng G do không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thanh H do không biết bị cáo Nguyễn Thị Hồng G tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Hồng G, Nguyễn Thanh H, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSBC ngày 15 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Nguyễn Thị Hồng G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Nguyễn Thị Hồng G đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố, bị cáo Nguyễn Thị Hồng G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng G từ 06 năm đến 07 năm tù; miễn hình phạt bổ sung; đồng thời áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định pháp luật.
Bị cáo G thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh H trình bày: vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 27/12/2020, G điện thoại nhờ anh chở đến huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh để gặp bạn thì anh đồng ý. Anh điều khiển xe mô tô biển số 59G1-80864 do anh đứng tên qua nhà trọ chở G đến huyện Gò Dầu và đi tiếp đến nhà nghĩ Mai Vàng 2 tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an bắt quả tang. Lập biên bản và tạm giữ tài sản do anh chủ sử hữu gồm: xe mô tô biển số 59G1-80864; 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đen; 01 (một) ví da màu nâu. Anh không biết trong người của G tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, nên anh xin nhận lại tài sản trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tâm Ngọc T vắng mặt có lời khai trình bày: Anh và G chung sống như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn. Đến tháng 12/2020 do anh sử dụng trái phép chất ma túy và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy Nhị Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, khi đưa đi thì anh có gửi điện thoại Sam sung màu đen có cài mật khẩu giao G quản lý, nên anh xin nhận lại.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo G thừa nhận hành vi phạm tội, hối hận việc đã làm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và áp dụng điều luật: vào khoảng 15 giờ ngày 27/12/2020, tại nhà nghỉ Mai Vàng 2 thuộc khu phố 1, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã Lợi Thuận và Công an thị trấn Bến Cầu bắt quả tang Nguyễn Thị Hồng G đang cất giấu trong người 01 (một) bịch nilon trong suốt, hàn kín 03 (ba) đầu, 01 (một) đầu khóa bóp có viền đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) nên lập biên bản tạm giữ người và vật chứng, theo kết luận giám định số 2024/KL-KTHS ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định: Mẫu chất tinh thể rắn bên trong 01 (một) bịch nilon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền đỏ (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 9,6850 gam, sau giám định còn lại là 9,3530 gam, mục đích cất giấu để bản thân sử dụng. Do đó hành vi của Nguyễn Thị Hồng G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Về tính chất vụ án: vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo G là người đã thành niên, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết tàng trữ ma túy sử dụng là pháp luật nghiêm cấm nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo G là rất nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Việc tàng trữ và sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho cho bản thân, gia đình và xã hội, người sử dụng ma túy sẽ bị nghiện, khi nghiện sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
+ Tình tiết tăng nặng: bị cáo G không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Áp dụng hình phạt: xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo G là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo G là người nghiện ma túy, phạm tội rất nghiêm trọng, do vậy cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân biết chấp hành pháp luật.
Hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo G không có có tài sản nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Thị Hồng G do không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thanh H do không biết bị can Nguyễn Thị Hồng G tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Hồng G, Nguyễn Thanh H, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) gói niêm phong vụ số: 2024/KL-KTHS; 01(một) ly thủy tinh trong suốt, bên trong có 01 cái chum nhựa màu đen, phía trong cùng là 1 /2 chai nhựa, có nắp màu đỏ, phía trên có gắn một ống nhựa màu trắng sọc vàng và một ống thủy tinh; 01 (một) bình gas hiệu Lighter gas; 01 (một) ống thủy tinh trong suốt là tang vật phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobiistar, màu đỏ đen, số IMEL:352221122487735, không liên lạc mua ma túy và không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho Nguyễn Thị Hồng G.
- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đen, số IMEL1:353544561159682/01 và 01(một) xe mô tô biển số 59G1-80864, số máy: HC12E-6452912F, số khung: RLHHC1211DY452617; 01 (một) ví da màu nâu không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho anh Nguyễn Thanh H.
- Đối với 01(một) gói niêm phong (kí hiệu M) bên trong là 01 điện thoại Sam sung, màu đen, số IMEL:356446/08/898337/9 không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho anh Nguyễn Tâm Ngọc T.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng G 06 (sáu) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2020.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong vụ số: 2024/KL-KTHS; 01(một) ly thủy tinh trong suốt, bên trong có 01 cái chum nhựa màu đen, phía trong cùng là 1/2 chai nhựa, có nắp màu đỏ, phía trên có gắn một ống nhựa màu trắng sọc vàng và một ống thủy tinh; 01 (một) bình gas hiệu Lighter gas; 01 (một) ống thủy tinh trong suốt.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng G 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobiistar, màu đỏ đen, số IMEL:352221122487735.
- Trả lại cho anh Nguyễn Thanh H 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng đen, số IMEL1:353544561159682/01; 01(một) xe mô tô biển số 59G1-80864, số máy: HC12E-6452912F, số khung: RLHHC1211DY452617 và 01 (một) ví da màu nâu.
- Trả lại cho anh Nguyễn Tâm Ngọc T 01(một) gói niêm phong (kí hiệu M) bên trong là 01 điện thoại Sam sung, màu đen, số IMEL:356446/08/898337/9.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thị Hồng G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo G, anh H được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh (1b); - Phòng PV 06 (1b); - VKSND huyện Bến Cầu (1b); - Công an huyện Bến Cầu (2b); - Bị cáo (1b); - Người có QLNVLQ (1b); - THÁ phạt tù (12b); - Chi cục THA huyện Bến Cầu (1b); - Hồ sơ vụ án (1b); -Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Mai |