vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 20/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Đ phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày 29 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Tuất Mạnh

Bà Trần Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2021/TLST - HS ngày 31/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Quốc Đ (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 10/10/1968 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Tổ 14 phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đức M (Đã chết) và con bà: Phạm Thị H (Đã chết).

Vợ: Phạm Thị H; Sinh năm: 1981; Trú tại: Tổ 14, phương X, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm: 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân sấu, bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy. Năm 1997 Trần Quốc Đ bị đưa đi tập trung cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lào Cai theo quyết định 152 của UBND tỉnh Lào Cai với thời hạn 06 tháng, nhưng mới chấp hành được 03 tháng Trần Quốc Đ đã bỏ trốn. Tuy nhiên, từ đó đến nay cũng không cơ quan, tổ chức nào yêu cầu Đ phải tiếp tục chấp hành quyết định nêu trên. Tính đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định.

Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thị xã C tỉnh Lào Cai tuyên phạt Trần Quốc Đ 02 năm tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" và buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án hình sự sơ thẩm số 16/HSST ngày 06/9/1999 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Lào Cai. Trần Quốc Đ đã chấp hành xong hình phạt tù và tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tính đến thời điểm phạm tội lần này Trần Quốc Đ đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/3/2021, tạm giam từ ngày 26/3/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Anh Hoàng Ngọc L; Sinh năm: 1988. Địa chỉ: Thôn Bản Phiệt, xã Bản Phiệt, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/3/2021, tổ công tác đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lào Cai, phối hợp cùng công an xã Bản Phiệt, huyện B phát hiện và bắt giữ Trần Quốc Đ, sinh năm 1968 là người có hộ khẩu thường trú tại tổ 14 phương X, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Qua kiểm tra phát hiện trong gấu quần bò mầu xanh phía chân trái của Trần Quốc Đ đang mặc có 01 gói ni non màu xanh bên trong chứa một cục chất bột khô màu trắng đục, vón cục, không xác định kích thước, Trần Quốc Đ khai là ma túy Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Th giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra tổ công tác còn Th giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mầu hồng nhạt có số Imei 353329079766867; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ; 06 tờ tiền mệnh giá 100.000đ 08 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. Trần Quốc Đ khai nhận là tiền do bán ma túy mà có.

Tại bản kết luận giám định số 74/GĐMT ngày 20/3/2021 của phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1,82 gam cục chất bột khô màu trắng đục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định đã trích 0,15 gam để giám định còn lại 1,67 gam được tái niêm phong hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ Th thập Th thập được đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Lào Cai đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 ngày 21/3/2021 đồng thời Viện kiểm sát nhân dân huyện B tỉnh Lào Cai ra quyết định chuyển vụ án hình sự số 02/QĐ - VKSBT cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B, tỉnh Lào Cai điều tra theo thẩm quyền. Ngày 25/3/2021 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B đã ra quyết định khởi tố bị can số 27 ngày 25/3/2021 bắt tạm giam đối với Trần Quốc Đ về hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra Trần Quốc Đ khai nhận: Khoảng 05 giờ ngày 20/3/2021, Trần Quốc Đ Thê xe ôm đi từ nhà tại tổ 14, phương X, thành phố L, tỉnh Lào Cai đến nhà Trần Thị Minh Th (tên thường gọi Th Nho) - Sinh năm 1965, trú tại thôn Công Trường 5, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai để mua ma túy. Khi đến gần nhà Trần Thị Minh Th (Th Nho) thì Trần Quốc Đ bảo người lái xe ôm dừng lại và trả tiền công cho người này còn Trần Quốc Đ đi bộ vào đến cổng nhà Trần Thị Minh Th gọi "Chị Th ơi", Th đáp "ơi", Trần Quốc Đ nói tiếp "Chị bán cho em 5 phân" Trần Thị Minh Th bảo "có". Trần Quốc Đ lấy từ trong túi quần đang mặc ra 1.500.000 đồng đưa cho Trần Thị Minh Th, sau đó Trần Thị Minh Th cầm tiền rồi đưa lại cho Trần Quốc Đ 01 túi nilon màu xanh, Trần Quốc Đ biết bên trong là ma túy nên không mở ra kiểm tra đồng thời cất giấu vào gấu quần bò phía bên chân trái đang mặc (gấu quần sắn lên do chân trái Trần Quốc Đ bị cụt). Sau khi mua được ma túy, Trần Quốc Đ Thê xe ôm đi về nhà mẹ đẻ là Phạm Thị H (đã chết, nhà bỏ hoang) ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại đây, Trần Quốc Đ lấy số ma túy vừa mua được ra chia thành 13 gói nhỏ, trong đó có 01 gói nhỏ bọc bằng túi nilon màu trắng còn 12 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc. Sau đó, Trần Quốc Đ đã bán được 12 gói nhỏ ma túy Heroine cho các đối tượng nghiện ma túy được số tiền 1.200.000 đồng, còn 01 gói ma túy còn lại giấu trong gấu quần bò bên trái đang mặc chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lào Cai kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Trên cơ sở lời khai của Trần Quốc Đ, ngày 20/4/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành khám xét người và nơi ở đối với Trần Thị Minh Th (tên thường gọi Th Nho) - Sinh năm 1965, trú tại thôn Công Trường 5, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Qua khám xét không Th giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Quốc Đ.

Vật chứng của vụ án gồm: 1,67 gam Heroine (Hêrôin) còn lại sau trích mẫu giám định; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng nhạt số Imei 353329079766867 bên trong có lắp 1 sim số 0377681568. Hiện nay đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

Cáo trạng số 15/CT - VKSBT ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Quốc Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng số 15/CT - VKSBT ngày 31/5/2021 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và đề nghị:

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bị cáo từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch Th: 1,67 gam Heroine được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn do phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai phát hành. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) Th giữ của Trần Quốc Đ hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai là tiền do phạm tội mà có đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch Th nộp vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng nhạt số Imei 353329079766867 bên trong có lắp 1 sim số 0377681568 của Trần Quốc Đ hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc Tế Lào Cai, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng Th giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy nên khoảng 5 giờ ngày 20/3/2021 Trần Quốc Đ Thê xe ôm đi từ nhà tại tổ 14, phương X, thành phố L đến nhà Trần Thị Minh Th (Th Nho), sinh năm 1965 tại thôn công trường 5, xã C, thành phố L với mục đích để mua ma túy về chia nhỏ bán cho các con nghiện để kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Trần Quốc Đ Thê xe ôm đi về nhà mẹ đẻ là Phạm Thị H (đã chết, nhà bỏ hoang) ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại đây, Trần Quốc Đ lấy số ma túy vừa mua được ra chia thành 13 gói nhỏ, trong đó có 01 gói nhỏ bọc bằng túi nilon màu trắng còn 12 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc. Sau đó, Trần Quốc Đ đã bán được 12 gói nhỏ ma túy Heroine cho các đối tượng nghiện ma túy được số tiền 1.200.000 đồng, còn 01 gói ma túy còn lại giấu trong gấu quần bò bên trái đang mặc chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lào Cai kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Trên cơ sở lời khai của Trần Quốc Đ, ngày 20/4/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành khám xét người và nơi ở đối với Trần Thị Minh Th (tên thường gọi Th Nho). Qua khám xét không Th giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Quốc Đ.

Tại bản kết luận giám định số 74/GĐMT ngày 20/3/2021 của phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1,82 gam chất bột khô màu trắng đục Th giữ của Trần Quốc Đ ngày 20/3/2021 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Quá trình điều tra Trần Quốc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã mua 1,82 gam Heroine về chia nhỏ ra làm nhiều gói với mục đích để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Tại phiên tòa hôm nay Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quốc Đ về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ. Mặt khác bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy. Năm 1997 Trần Quốc Đ bị đưa đi tập trung cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lào Cai theo quyết định 152 của UBND tỉnh Lào Cai với thời hạn 06 tháng, nhưng mới chấp hành được 03 tháng Trần Quốc Đ đã bỏ trốn. Tuy nhiên, từ đó đến nay cũng không cơ quan, tổ chức nào yêu cầu Trần Quốc Đ phải tiếp tục chấp hành quyết định nêu trên. Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thị xã C tỉnh Lào Cai tuyên phạt Trần Quốc Đ 02 năm tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" và buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án hình sự sơ thẩm số 16/HSST ngày 06/9/1999 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Lào Cai. Trần Quốc Đ đã chấp hành xong hình phạt tù và tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tính đến thời điểm phạm tội lần này Trần Quốc Đ đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Sau khi chấp hành xong hình phạt tù được tái hòa nhập cộng đồng trở về địa phương bản thân bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội và gia đình mà bị cáo tiếp tục tái nghiện và đã thực hiện hành vi mua 1,82 gam Heroine về chia nhỏ với mục đích để bán kiếm lời. Do vậy đối với bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm minh và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

. Liên quan trong vụ án này còn có Trần Thị Minh Th (Th Nho) là người mà bị cáo khai đã bán 1,82 gam Heroine cho bị cáo với giá 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) vào sáng ngày 20/3/2021. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét người và chỗ ở của Trần Thị Minh Th nhưng không Th giữ được vật chứng gì liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Quốc Đ. Qua đấu tranh Trần Thị Minh Th không thừa nhận việc bán Heroine cho Trần Quốc Đ. Xét thấy ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh hành vi bán trái phép chất ma túy của Trần Thị Minh Th cho Trần Quốc Đ vào sáng ngày 20/3/2021. Do vậy không có đủ căn cứ để xử lý Trần Thị Minh Th về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy". Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ nên không đề cập xử lý.

Đối với người lái xe ôm mà bị cáo Thê chở đi mua ma túy, quá trình điều tra bị cáo, cơ quan điều tra không xác định được nhân thân địa chỉ của người này. Nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không đề cập xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Hội đồng xét xử xét thấy là không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo bởi lẽ bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản. Do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với các quy định củ pháp luật.

. Về vật chứng của vụ án: Đối với 1,67 gam Heroine còn lại sau trích mâu giám định được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn do phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai phát hành. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai. Đây là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, Viện kiểm sát đề nghị tuyên tich Th để tiêu hủy là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch Th để tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số Imei 353329079766867 bên trong có lắp 1 sim số 0377681568 Th giữ của bị cáo Trần Quốc Đ hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã xác định đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có và là tài sản của bị cáo. Nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch Th số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước là chưa đủ căn cứ bởi lẽ: Số tiền 1.200.000đ quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo xác định là tiền đã bán ma túy cho các đối tượng nghiện nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh bị cáo bán cho những ai, ở đâu do vây không đủ căn cứ để xác định đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số Imei 353329079766867 bên trong có lắp 1 sim số 0377681568 Th giữ của bị cáo quá trình điều tra xác định không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Do vậy không thể coi đây là khoản tiền do phạm tội mà có và là những vật chứng liên quan đến vụ án, nên không đủ căn cứ để căn cứ để tịch Th số tiền và chiếc điện thoại nói trên của bị cáo mà Hội đồng xét xử chỉ cần tuyên tạm giữ của bị cáo số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và chiếc điện thoại di động Th giữ của bị cáo Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Trần Quốc Đ là phù hợi với các quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 20/3/2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch Th: 1,67 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn do phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai phát hành một mặt có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định Th giữ khi bắt quả tang Trần Quốc Đ ngày 20/3/2021 tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai". Mặt còn lại của bì thư có chữ ký của những người liên quan và hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ Thật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào để tiêu hủy.

Tạm giữ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Trần Quốc Đ hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Trần Quốc Đ 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng nhạt số Imei 353329079766867 bên trong có lắp 1 sim số 0377681568 Th giữ của bị cáo Trần Quốc Đ hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức Th phí, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ