vanban.org

Bản án 23/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 09/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáoNguyễn Mạnh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 15-7-2021 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái như sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác: Nguyễn Mạnh Th) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Căn cứ điểm b, i khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;xử phạt Nguyễn Mạnh T 08 (Tám)năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác: Nguyễn Mạnh Th) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáoNguyễn Mạnh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 15-7-2021 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HS-PT
Ngày 09-9-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂNDÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Lan

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2021/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân C phố YB, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Mạnh T, tên gọi khác: Nguyễn Mạnh Th; sinh ngày 10-6-1980; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn ĐT, xã PT, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;Tôn giáo: Không;Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức S và bà Mai Thị A (đều đã chết);Vợ là Vi Thị D H sinh năm 1983 và có 3 con (Con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-3-2021, hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Yên Bái; Có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hữu C không kháng cáo và không liên quan đến việc kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân C phố YB và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân C phố YB, tỉnh Yên Bái thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng thời gian giữa 3-2021, Nguyễn Mạnh T mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường cao tốc Nội Bài-LàoCai 05 gói Heroinevới giá 500.000 đồng, T đã sử dụng hết 4 gói. Đến khoảng 18 giờ ngày 27-3-2021, Nguyễn Mạnh T đã bán cho Nguyễn Hữu C 01 gói Heroine còn lại với giá 200.000 đồng.

Đến khoảng 9 giờ ngày 29-3-2021, trên đường đi mua gỗ từ Lào Cai về đến khu vực Km246 đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai, Nguyễn Mạnh T mua được của một người đàn ông không quen biết 07 gói ma túy với số tiền 7 triệu đồngvới mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. T mang ma túy về phòng ngủ, lấy 02 gói chia ra C 58 gói nhỏ gói lại bằng nilon màu đen, còn lại một ít thì T sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng hết nên để luôn tại mặt bàn trong phòng ngủ. Còn 05 gói T mang giấu vào giỏ quần áo trong phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì B (là bạn nghiện T mới quen) gọi vào điện thoại di động của T có số thuê bao 0377485519 hỏi mua 17 gói ma túy với giá 100.000 đồng/1 gói, T đồng ý bán nên đã gọi điện cho Nguyễn Hữu C để thuê C đi bán ma túy. C và T thống nhất thỏa thuận: C cầm 17 gói ma túy đi bán cho B và nhận của B tổng số tiền là 1.700.000 đồng, T sẽ trả công cho C 300.000 đồng. Do không có phương tiện, nên C đã rủ Nguyễn Thanh D đi cùng vì D có xe mô tô (C không nói cho D biết mục đích mình đi bán ma túy). Đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 29-3-2021, C và D đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái thuộc thôn TP, xã G, thành phố YB, tỉnh Yên Bái, thì D đứng ngoài cổng bệnh viện đợi, còn C một mình đi bộ vào gần đến khu vực nhà để xe mục đích để bán ma túy,thì bị Công an thành phố YB bắt quả tang Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu đen bên trong 17 gói ma túy gói bằng nilon màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel số thuê bao 0978372045 và 01 ống nước cất. Nguyễn Hữu C khai nhận 17 gói ma túy là của Nguyễn Mạnh T đưa cho C mang đi bán.

Khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh T tại thôn ĐT, xã PT, huyện Y, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Mạnh T tự giác giao nộp: 47 túi nilon màu đen, trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine); 02 điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Nokia số thuê bao 0396060620; 01 chiếc nhãn hiệu Realime số thuê bao 0377485519); 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Mạnh T và 2.490.000 đồng

Tại bản kết luận giám định về ma túy số: 189 ngày 05-4-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

“1. Chất bột nén màu trắng thu giữ của Nguyễn Hữu C khi bắt quả tang có tổng khối lượng là 2,05 gam (Hai phẩy không năm gam) là ma túy, loại Heroine.

2. Chất bột nén màu trắng Nguyễn Mạnh T tự giác giao nộp tại túi quần phía trước bên trái có tổng khối lượng là 4,66 gam (Bốn phẩy sáu sáu gam) là ma túy, loại Heroine.

3. Chất bột nén màu trắng Nguyễn Mạnh T tự giác giao nộp tại mặt bàn trong phòng ngủ có khối lượng là 0,08 gam (Không phẩy không tám gam) là ma túy, loại Heroine.

4. Chất bột nén màu trắng Nguyễn Mạnh T tự giác giao nộp tại giỏ nhựa để quần áo trong phòng ngủ có tổng khối lượng là 15,5 gam (Mười lăm phẩy năm gam) là ma túy, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 28/CTr-VKS-TP ngày 14-6-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Mạnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Hữu C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 15-7-2021 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn cứ điểm b, i khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Mạnh T 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29-3-2021. Phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định tôi danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu C, quyết định xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21-7-2021, bị cáo Nguyễn Mạnh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mạnh T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp một phần tiền phạt; bố đẻ bị cáo là người có công với nước để giảm hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên trình bày quan điểm: Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 15-7-2021 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái như sau:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Mạnh T 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-3-2021.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trìnhh điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Mạnh T thì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T được viết đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết phúc thẩm.

Lời khai tại phiên tòa phúc thẩm của bị cáo Nguyễn Mạnh T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Ngày 27-3-2021 bị cáo T thực hiện hành vi bán cho Nguyễn Hữu C 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng; Ngày 29-3-2021 bị cáo T thuê Nguyễn Hữu C mang 2,05 gamHeroine đi bán lấy số tiền 1.700.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo T còn có hành vi tàng trữ trái phép 20,24 gam Heroine với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Mạnh T, Hội đồng xét xử thấy:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là bị cáo T hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và mua bán ma túy với tổng khối lượng là 22,29 gam Heroine, đây là các tình tiết định khung quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú và thành khẩn khai báo, theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T mức án 10 năm tù và phạt tiền 10.000.000 đồng là phù hợp và đúng pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T đã xuất trình giấy xác nhận về việc bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Đức S được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng II, đồng thời bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền phạt là 5.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số AA/2013/01714 ngày 08-9-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố YB) thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phát sinh ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Mạnh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứđiểm b khoản 1, khoản 2Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáoNguyễn Mạnh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 15-7-2021 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái như sau:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác: Nguyễn Mạnh Th) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn cứ điểm b, i khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;xử phạt Nguyễn Mạnh T 08 (Tám)năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-3-2021. Phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), xác nhận bị cáo Nguyễn Mạnh T đã nộp được 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2013/01714 ngày 08-9-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố YB.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Mạnh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ