vanban.org

Bản án 23/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối ông Phạm Phú C về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Phạm Phú C. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Phạm Phú C phải giao cháu Phạm Nhã H, sinh ngày 14/3/2018 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T không yêu cầu ông Phạm Phú C cấp dưỡng nuôi con nên không giải q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối ông Phạm Phú C về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________
Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02- 3-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bảo Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Khắc Thân - Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 652/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1996

Nơi cư trú: ấp x, xã y, huyện z, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ hiện nay: Tổ x1, khu phố y1, phường z1, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Phú C, sinh năm 1991

Nơi cư trú: Ấp x, xã y, huyện z, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ hiện nay: Tổ x2, khu phố y2, phường z2, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Phạm Phú C sau thời gian tìm hiểu, đã tự nguyện tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/02/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020, ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vào tháng 3 năm 2020, ông C không gửi con chung, cháu Phạm Nhã H, sinh ngày 14/3/2018, đi nhà trẻ mà gửi cháu về cho bà Phạm Thị H1, mẹ của ông, tại ấp x, xã y, huyện z, tỉnh Cà Mau, nhờ nuôi dưỡng. Do phía bà không đồng ý mà muốn đón cháu H về lại Phú Mỹ để trực tiếp nuôi dưỡng nên giữa ông bà đã xảy ra mâu thuẫn với nhau. Từ tháng 11/2020 cho đến nay, bà đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ sinh sống. Trong thời gian ly thân vợ chồng ông bà không qua lại quan tâm chăm sóc nhau và hiện không còn tình cảm vợ chồng. Vì vậy bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C có một con chung là cháu Phạm Nhã H, sinh ngày 14/3/2018. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Lý do bà xin nuôi con do cháu H còn nhỏ tuổi, là con gái, mẹ chăm sóc sẽ tốt hơn, bên cạnh đó điều kiện ở trên Phú Mỹ này tốt hơn quê chồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn trình bày:

Ông C xác nhận nội dung bà T trình bày về quá trình kết hôn, con chung và mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Ông không bổ sung gì thêm.

Do đó việc bà T xin ly hôn thì ông đồng ý do ông bà không còn tình cảm vợ chồng và đã ly thân.

Về con chung: Khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Nhã H, sinh ngày 14/3/2018, đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Ông và bà T không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Lê Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Phú C, cư trú tại Tổ x2, khu phố y2, phường z2, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Phạm Phú C đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2017 ngày 23/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.

Qua trình bày của nguyên đơn và lời xác nhận của bị đơn thì thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà phát sinh từ năm 2020, nguyên nhân do bất đồng trong cách nuôi dạy và chăm sóc con chung, vợ chồng không hòa hợp trong cách sống, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, yêu thương, chia sẻ với nhau. Tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, bà T ông C thống nhất thuận tình ly hôn.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà T đối với ông C

Về nuôi con chung, cấp dưỡng: Căn cứ lời trình bày của các đương sự, hợp đồng lao động, bảng lương, xác nhận của địa phương về hoàn cảnh kinh tế của các đương sự, thì thấy:

Về điều kiện nuôi con của bà T: Bà T hiện làm công nhân cho Công ty N tại KCN Phú Mỹ 3, thu nhập mỗi tháng trung bình khoảng 8 triệu đồng. Hiện nay bà đang ở chung nhà với cha mẹ tại phường Phú Mỹ, bà đi làm công ty theo ca, mỗi ngày có ba ca, hai tuần xoay ca một lần, ca thứ nhất làm từ 06 giờ sáng đến 2 giờ chiểu, ca 2 làm từ từ 2 giờ chiều đến 10 giờ tối, ca 3 làm từ 10 giờ tối đến 5 giờ sáng, mỗi tháng được nghỉ 6 ngày (hai ngày thứ 7, bốn ngày chủ nhật).

Về điều kiện nuôi con của ông C: Hiện nay ông làm công nhân Công ty TNHH TH, làm bên bộ phận xếp dỡ, thời gian làm việc theo ca 12 tiếng, cắt ca theo ngày, ca 1 làm từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều, ca hai làm từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Thu nhập mỗi tháng 8 triệu đồng. Hiện nay ông đang ở nhà trọ.

Như vậy cả bà T, ông C đều có công việc và thu nhập ổn định nên đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Tuy nhiên xét thấy việc ông C không trực tiếp nuôi dưỡng con chung mà gửi cho bà Phạm Thị H1 tại tại ấp x, xã y, huyện z, tỉnh Cà Mau nuôi dưỡng cho đến nay là chưa phù hợp. Đồng thời cháu Phạm Nhã H có giới tính nữ; tính đến thời điểm xét xử cháu H mới 02 năm 11 tháng 17 ngày tuổi, nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng mới đảm bảo tâm sinh lý phát triển tốt nhất của cháu Hân.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định buộc ông Phạm Phú C phải giao cháu Phạm Nhã H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Về nuôi tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị T nộp án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56,57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối ông Phạm Phú C về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Phạm Phú C.

2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Phạm Phú C phải giao cháu Phạm Nhã H, sinh ngày 14/3/2018 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà T không yêu cầu ông Phạm Phú C cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Phú C được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006197 ngày 30/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ