- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trịnh Thị Như M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Tài Đại T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị Như M được ly hôn với ông Tài Đại T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST Ngày: 19/4/2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Lê Đình Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 564/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Như M, sinh năm 1987 (có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 7, phường B, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Tài Đại T, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị Như M trình bày:
Bà Trịnh Thị Như M và ông Tài Đại T sau thời gian tìm hiểu mới chung sống với nhau có cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã T năm 2014. Sau khi cưới, vợ chồng đi làm tại TP. Hồ Chí Minh nhưng cứ cuối tuần lại về nhà cha mẹ bà sống ở khu phố 7, phường B, thành phố P. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 5/2018, thì bắt đầu có mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng hay cải vã. Vào tháng 01/2020, bà M và ông T không còn chung sống với nhau nữa, ông T dọn ra ngoài sống riêng và vào cuối tuần không cùng bà về quê thăm con, gia đình nữa.
Ông T biết việc bà nộp đơn ly hôn nhưng không liên hệ với bà và cũng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Gia đình 2 bên đều có khuyên can để ông bà quay lại sống nhưng bà đã hết tình cảm với ông T nên muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Tài Đại P, sinh ngày 07/02/2017. Nếu được ly hôn bà xin nuôi cháu P và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay ông T vẫn thường xuyên về nhà tại xã T và vẫn ghé thăm cháu P cỡ 3 lần trong năm. Ông T không hỗ trợ gì để bà nuôi con từ lúc cháu được sinh ra.
Bà hiện nay đang làm nhân viên văn phòng, thu nhập mỗi tháng 30.000.000đồng và cũng có cha mẹ ruột phụ giúp chăm cháu nên đủ khả năng để nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Tài Đại T quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng.
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trịnh Thị Như M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Tài Đại T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại xã T, TP. P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông T đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Trịnh Thị Như M và ông Tài Đại T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, TP. P, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74/2014 ngày 21/7/2014, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân:
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Tuy nhiên, từ tháng 1/2020 đến nay bà M và ông T đã không còn gặp gỡ và chung sống với nhau, ông T không còn về nhà để thăm con chung. Tình trạng mâu thuẫn của bà M và ông T phù hợp với Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B do nguyên đơn cung cấp.
Ông T đang làm việc tại TP. Hồ Chí Minh nhưng vẫn liên lạc và đi về thăm gia đình tại xã T, thành phố P. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Trương Thị T1 (mẹ ruột ông T), bà T1 đã nhận và đều cam kết giao lại cho ông T. Điều này chứng tỏ ông T biết việc bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông T không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà M và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Tài Đại P, sinh ngày 07/02/2017. Bà M có yêu cầu trực tiếp nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu P từ trước đến nay đều sống với bà M. Bà M có nghề nghiệp và thu nhập mỗi tháng 30.000.000đồng, có khả năng để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Tài Đại P cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không có yêu cầu.
Tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị Như M được ly hôn với ông Tài Đại T.
2. Về con chung: Giao cho bà Trịnh Thị Như M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Tài Đại P, sinh ngày 07/02/2017. Ông Tài Đại T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Trịnh Thị Như M không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Trịnh Thị Như M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Trịnh Thị Như M đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0022954 ngày 19/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trịnh Thị Như M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - UBND xã Thành Hải, TP. PR-TC; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |