vanban.org

Bản án 23/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 29/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng C đề ngày 26/02/2021.

Bà Hà Thị N và ông Châu Minh P phải trả cho NHC số tiền là 12.300.676 đồng (Mười hai triệu, ba trăm ngàn, sáu trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó, số tiền gốc là 11.235.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 29/6/2021 là 1.065.676 đồng. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên phải thi hành án chưa trả đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng CSXH khởi kiện bà Nhị và ông Phong"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng C đề ngày 26/02/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2021/DS-ST.
Ngày: 29/06/2021.
“V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM,TỈNH KONTUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiền và bà Nguyễn Thị Sương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Đỗ Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Kon Tum, tỉnh KonTum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Trần Bá Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 29/06/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2021/TLST- DS ngày 10 tháng 03 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐST- DS ngày 19/05/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 265/2021/QĐST- DS ngày 08/06/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C;

Địa chỉ: Số M, đường P, phường H, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc Ngân hàng C; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C - Phó Giám đốc Ngân hàng C tỉnh KonTum. "Có mặt".

Địa chỉ: Số N, phường D, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Bị đơn: Bà Hà Thị N. Sinh năm 1970 và ông Châu Minh P. Sinh năm 1968. "Đều vắng mặt".

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Đ, phành phố K, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2021 và các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thì đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ngân hàng C trình bày:

Vào ngày 30/11/2017 hộ gia đình bà Hà Thị N đã ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng C (NHC) tỉnh Kon Tum, bà N là người đã đứng tên vay vốn được sự ủy quyền của ông P, số tiền gốc vay 12.000.000 đồng; mã món vay số 6600000711628416, thời gian cho vay là 60 tháng, lãi suất trong hạn là 0,75%/ tháng, lãi suất nợ quá hạn là 0,975%/ tháng và ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là 09/12/2022, thỏa thuận lãi trả hàng tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Đào giếng, xây nhà vệ sinh. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì hộ bà N, ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi theo kỳ hạn. Ngân hàng đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương hối thúc hộ bà N có phương án trả nợ nhưng hộ bà N không trả nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà N và ông P phải trả cho NHC tổng số tiền gốc và tiền lãi trong hạn tính đến 29/6/2021 là 12.300.676 đồng. Trong đó số tiền gốc còn nợ là: 11.235.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn đồng), tiền lãi trong hạn 1.065.767đồng, yêu cầu bà N và ông P tiếp tục phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kể từ ngày 30/06/2021 cho đến khi trả hết nợ.

Đối với bị đơn bà Hà Thị N và ông Châu Minh P:

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Hà Thị N và ông Châu Minh P nhưng bà N và ông P không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N và ông P cũng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật; Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà N và ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở nên chấp nhận, buộc bị đơn bị đơn Hà Thị N và ông Châu Minh P phải trả các khoản nợ trên cho Ngân hàng và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tuc tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà Hà Thị N và ông Châu Minh P đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NHC yêu cầu Tòa án buộc bà Hà Thị N và ông Châu Minh P phải trả số tiền gốc vay còn nợ là 11.235.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn đồng), tiền lãi trong hạn tính đến ngày 29/6/2021 là 1.065.767 đồng, đồng thời yêu cầu bà N và ông P tiếp tục phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kể từ ngày 30/06/2021 cho đến khi trả hết nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố K đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án để bị đơn bà N và ông P biết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nhưng bà N và ông P không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa để giải quyết vụ án và bà N và ông P phải chịu hậu quả của việc không chứng minh của mình. Xét thấy, việc ký hợp đồng vào ngày Vào ngày 30/11/2017 hộ gia đình bà Hà Thị N đã ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng C (NHC) tỉnh Kon Tum, bà N là người đã đứng tên vay vốn được sự ủy quyền của ông P, số tiền vay 12.000.000 đồng; mã món vay số 6600000711628416, thời gian cho vay là 60 tháng, lãi suất trong hạn là 0,75%/ tháng, lãi suất nợ quá hạn là 0,975%/ tháng và ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là 09/12/2022, thỏa thuận lãi trả hàng tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Đào giếng, xây nhà vệ sinh, việc ký hợp đồng của bà N với ngân hàng là hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, hộ bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi hàng tháng theo hợp đồng đã ký kết với ngân hàng. Căn cứ Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu nêu trên của ngân hàng là đúng quy định của pháp luật. Buộc bà buộc bà Hà Thị N và ông Châu Minh P phải trả cho NHC số tiền là: 12.300.676 đồng (Mười hai triệu, ba trăm ngàn, sáu trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó, số tiền gốc vay còn nợ là 11.235.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn đồng), tiền lãi trong hạn tính đến ngày 29/6/2021 là 1.065.767đồng, bà N và ông P tiếp tục phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kể từ ngày 30/06/2021 cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu đơn khởi kiện của Ngân hàng C tỉnh Kon Tum được chấp nhận nên bị đơn bà N và ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tính được là: 12.300.676 đồng x 5 % = 615.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 357, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 6, khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng C đề ngày 26/02/2021.

- Bà Hà Thị N và ông Châu Minh P phải trả cho NHC số tiền là 12.300.676 đồng (Mười hai triệu, ba trăm ngàn, sáu trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó, số tiền gốc là 11.235.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 29/6/2021 là 1.065.676 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên phải thi hành án chưa trả đủ số tiền phải trả thì bên được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chậm trả, bên phải thi hành án phải chịu lãi suất của số tiền chậm trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kẻ từ ngày 30/6/2021 cho đến thi trả hết nợ.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hà Thị N và ông Châu Minh P phải chịu 615.000 đồng (Sáu trăm mười lăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/06/2021) lên Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum để xin xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguỵên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ