vanban.org

Bản án 23/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 07/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Trần Hữu V 12 (mười hai) tháng tù. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, còn phải thi hành tiếp 11 tháng 21 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án. [3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu V, thụ lý số 26/2020/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2020 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HSST
Ngày 07 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Long Các hội thẩm nhân dân: Ông:

Lê Liêm Ông:

Giàng A Chỉnh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Hồng Phúc Thư ký TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Lê Ngọc Trang

Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 26/2020/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 25/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hữu V; Sinh năm: 1992 tại tỉnh Nam Định; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: thôn Lang Xá, xã Mỹ Tiến, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B (sinh năm 1960) và bà Trần Thị T (sinh năm 1965); Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đinh; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2020 cho đến ngày 18/4/2020 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/4/2020 Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc: Tại khu vực bồn hoa trên đường Nguyễn Chí Thanh (thuộc tổ 8, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) có đối tượng nam giới đang đứng trong bồn hoa nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Công an thành phố Lai Châu thành lập tổ công tác tiến hành xác minh, khi đên nơi tổ công tác phát hiện một đối tượng nam giới có đặc điểm giống quần chúng cung cấp nên đã yêu cầu kiểm tra. Đối tượng khai nhân tên là Trần Hữu V (sinh năm 1992; trú tại thôn Lang Xá, xã Mỹ Tiến, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), đồng thời khai nhận đang tàng trữ ma tuý và đi ra góc bồn hoa lấy dưới đất giao nộp cho cơ quan điều tra 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong là một gói được gói ngoài bằng mảnh giấy vệ sinh màu trắng, bên trong là 02 lớp túi nilon (lớp ngoài là túi nilon màu trắng miệng túi viền màu cam và lớp trong là túi nilon màu trắng miệng túi viền màu đỏ) trong cùng là tinh thể màu trắng. V khai nhận là ma tuý đá của V, tổ công tác mời người làm chứng, lập biên bản và đưa V cùng vật chứng về trụ sở làm rõ.

Tại cơ quan điều tra V khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 09/4/2020 khi đang ở phòng ngủ (tại Văn phòng công ty xe khách Việt Anh, tổ 7, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) thì V lên cơn nghiện, V lấy gói ma tuý của V gói lại bằng mảnh giấy vệ sinh và cho vào bao thuốc lá Thăng Long rồi cho vào túi quần đang mặc đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến bồn hoa trên đường Nguyễn Chí Thanh (thuộc tổ 8, phường Tân Phong), V lấy bao thuốc chứa ma tuý để xuống đất đề phòng bị phát hiện rồi đi xung quanh tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan điều tra phát hiện, V đã tự giác lấy gói ma tuý giao nộp.

Cơ quan điều tra căn cứ hành vi của V, tiến hành lệnh khám xét chỗ ở của V tại tổ 7, phường Tân Phong. Quá trình khám xét V tự giác lấy từ túi sau quần của V đang treo trên mắc giao nộp 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng miệng khoá zip, bên trong là chất bột màu trắng, V khai đó là heroine của V.

Về nguồn gốc ma tuý có được là vào khoảng 09 giờ ngày 05/3/2020 V đi chơi ở chợ Ba tầng (phường Văn Miếu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) có gặp một người đàn ông giống người nghiện ma tuý (V không biết tên, tuổi và địa chỉ), V hỏi người đó có ma tuý đá và heroine bán không, người đó trả lời có. Qua trao đổi V mua của người đó 1.000.000VNĐ được 01 gói ma tuý đá (gói ngoài bằng 2 lớp túi nilon, ngoài cùng là túi nilon màu trắng miệng viền màu cam; bên trong là túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ); 01 gói heroine gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng. Mua được ma tuý V mang về cất giấu không cho ai biết, ngày 06/3/2020 Văn mang ma tuý đi xe khách Việt Anh lên Lai Châu và ở tại Văn phòng Công ty xe khách Việt Anh, mục đích để sửa chữa phòng Karaoke, Văn ở cùng Lê Quang T và Lê Minh T1 (Văn không cho T và T1 biết việc tàng trữ ma tuý). Trong quá trình ở đây V đã sử dụng ma tuý đá một lần và ba đến bốn lần sử dụng heroine (V không nhớ cụ thể). Đến chiều 09/4/2020 khi lên cơn nghiện V mang ma tuý đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Cơ quan điều tra triệu tập chị Trần Thị H (chủ nhà nơi V đang ở); Lê Quang T và Lê Minh T1 (người ở cùng V). Tuy nhiên chị H, anh T và anh T1 không biết việc V tàng trữ ma tuý, V cũng không nói cho ai biết.

Ngày 09/4/2020 Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trọng lượng (BL53-56); Tang vật thu giữ của V gồm:

- 01 gói Văn tàng trữ khi bị phát hiện sau khi loại bỏ 01 vỏ bao thuốc lá; 01 lớp giấy vệ sinh; 02 lớp túi nilon có khối lượng 0,46gam chất tinh thể màu trắng. Hội đồng nhất trí gửi đi giám định toàn bộ không hoàn lại.

- 01 gói Văn tàng trữ trong túi quần trong phòng ngủ, sau khi loại bỏ 01 lớp nilon màu trắng có khối lượng 0,25gam chất bột khô màu trắng. Hội đồng nhất trí gửi đi giám định toàn bộ không hoàn lại.

Còn lại: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng; 01 túi nilon màu trắng miệng viền màu cam và túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu.

01 túi nilon màu trắng miệng khoá zip được niêm phong trong phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu.

Kết luận giám định số 161/GĐ-KTHS ngày 15/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL63) đã kết luận: 01 (một) mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine;

Kết luận giám định số 162/GĐ-KTHS ngày 15/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL63) đã kết luận: 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Ngày 01/7/2020 Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu có văn bản số 219/CV-ĐCSKT-MT gửi Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân thành phố Lai Châu đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V vì trong quá trình điều tra V thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và cung cấp thông tin, tài liệu giúp cơ quan điều tra bắt giữ được đối tượng Chang A Đ (sinh năm 1982; trú tại bản Gia Khâu 2, xã Sùng Phài, thành phố Lai Châu) về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Bản cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 24/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (BL137-140) đã truy tố Trần Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo nghiện ma tuý nên vẫn cố tình thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Hữu Văn đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù; khấu trừ thời hạn tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án; Miễn hình phạt bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: 16 giờ 30 phút ngày 09/4/2020 tại khu vực tổ 8, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Trần Hữu V đã có hành vi tàng trữ 0,46gam methamphetamine và tàng trữ 0,25gam heroine tại phòng ngủ của mình ở tổ 7, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Mục đích tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ Luật hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng của Methamphethamine và Heroine mà Trần Hữu V tàng trữ để sử dụng cho bản thân là 0,46gam + 0,25gam = 0,71gam thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249/BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.

…

i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để sử dụng cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh trong quần chúng nhân dân.

Nhân thân bị cáo: Được đi học hết lớp 8/12 rồi ở nhà lao động. Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự và chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu của bản thân; Khi bị cơ quan điều tra yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác lấy gói ma tuý để dưới đất trong bồn hoa giao nộp khi bị kiểm tra và tự giác lấy gói ma tuý trong túi quần treo trên mắc tại phòng ngủ giao nộp khi cơ quan điều tra thực hiện lệnh khám xét nên được coi là đầu thú hành vi phạm tội của mình; Ngoài ra trong quá trình điều tra bị cáo tích cực hợp tác và cung cấp thông tin để cơ quan điều tra bắt khởi tố một đối tượng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, Cơ quan điều tra có văn bản số 219/CV-ĐCSKT-MT ngày 01/7/2020 đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với V. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249/BLHS quy định: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên bị cáo nghiện, sống chung cùng bố mẹ, không có tài sản riêng mặt khác còn phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

0,46gam Methamphetamine và 0,25gam heroine, đã gửi đi giám định toàn bộ không hoàn lại nên không xem xét.

Còn lại 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng; 01 túi nilon màu trắng miệng viền màu cam; túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng miệng khoá zip được niêm phong cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Trần Hữu V 12 (mười hai) tháng tù. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, còn phải thi hành tiếp 11 tháng 21 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

[4] Tịch thu: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng; 01 túi nilon màu trắng miệng viền màu cam; túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng miệng khoá zip để tiêu huỷ.

Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu. Tình trạng vật chứng như biên bản giao giữa Công an và Chi cục THA dân sự thành phố Lai Châu hồi 09 giờ 00 phút ngày 26/6/2020.

[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ