vanban.org

Bản án 23/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 17 (Mười bảy) năm tù; thời hạn tính từ ngày 03/6/2019. Về xử lý vật chứng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HSST
Ngày 27 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Hữu Chiến.

Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lừ Văn Tuyên, ông Nguyễn Hồng Sơn, bà Bùi Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Q; sinh năm 1963 tại huyện A, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/10; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái đoàn thể: không; con ông Nguyễn Quang T (đã chết) và bà Hoàng Thị S (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị A và 02 con;

Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án - Bản án số 21 ngày 18/3/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt Nguyễn Xuân Q 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2001; Bản án số 07 ngày 20/02/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt Nguyễn Xuân Q 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 26/09/2018 (chưa xóa án tích); Tiền sự: không;

Về nhân thân: Ngày 19/3/1996 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 12 tháng tù về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân. (Bản án số 07 ngày 19/3/1996 - đã được xóa án tích); Ngày 27/4/1996 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt bản án số 07 ngày 19/3/1996 hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 30 tháng tù. (Bản án số 13 ngày 27/4/1996 - đã được xóa án tích); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2019 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Bá Linh - Đoàn luật sư tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 02/6/2019, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ trên Quốc lộ 6, khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ yêu cầu dừng xe Taxi hiệu HUYNDAI BKS 26A-031.64 chạy theo hướng Sơn La - Hà Nội để kiểm tra, phát hiện Nguyễn Xuân Q (ngồi ghế bên phải) hạ cửa kính xe ô tô và ném ra phía bên phải đường theo hướng đi một túi nilon màu đen.

Tổ công tác đã lập biên bản sự việc có sự chứng kiến của Nguyễn Thành Tuân (lái xe Taxi) xác nhận khi thấy tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Q đã hạ cửa kính xe ô tô và vứt một túi nilon màu đen ra ngoài.

Kết quả khám nghiệm hiện trường tại vị trí trên bãi cỏ sát hàng rào phía bên phải đường Quốc lộ 6 (hướng Sơn La - Hà Nội) cách mép ngoài rãnh thoát nước l,6m, cách mép đường Quốc lộ 6: 4,65 mét; cách vị trí đỗ của chiếc xe Taxi hiệu HUYNDAI BKS 26A 031.64 về phía đông bắc 07m; phát hiện và thu giữ một gói nilon màu đen bên trong có cục bột nén màu trắng, và một gói nilon chứa các viên nén màu hồng nghi là Heroine và hồng phiến (ma túy tổng hợp)-Q không thừa nhận là của mình.

Ngày 3/6/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đông mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định.

-Cục bột nén màu trắng có khối lượng 158,16 gam trích 01 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu Q2;

-01 túi nilon bên trong có 197 viên nén màu hồng có khối lượng 20,02 gam, 02 viên màu xanh có khối lượng 0,2 gam; trích 10 viên màu hồng khối lượng 1,02 gam và 02 viên màu xanh khối lượng 0,2 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu Q4, Q5.

Kết luận giám định số 1032 ngày 06 tháng 06 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu: Q2 là ma túy, loại Heroỉne; khối lượng của mẫu gửi giám định là l gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu: Q4 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là: 1,02 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu: Q5 không phải là ma túy; khối lượng mẫu gửi giám định là: 0,2 gam”. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ 158,16 gam Heroine và 20,02 gam Methamphetamine.

Ngày 03/6/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Xuân Q. Tạm giữ của Q một chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Xuân Q, 02 điện thoại di động, 2.000.000 đồng, một thẻ ATM.

Đến ngày 03 tháng 6 năm 2020, tại Cơ quan điều tra Nguyễn Xuân Q khai nhận: Tháng 9 năm 2018, Nguyễn Xuân Q chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam Q1; về nơi cư trú tại Thôn M, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, được thời gian ngắn thì tái nghiện và sử dụng ma túy.

Khoảng cuối tháng 5 năm 2019, Q đến thành phố Hà Nội tìm việc làm, Q gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên Hà (không rõ họ và địa chỉ), qua nói chuyện được Hà cho số điện thoại của người tên Tráng ở Hang Kia, Mai Châu, Hòa Bình là phạm nhân cùng cải tạo tại trại giam Q tiến, đã chấp hành án xong về điạ phương trước Q. Mấy ngày sau, Q quay về Hà Giang và gọi điện cho Tráng theo số điện thoại 0357497388 hỏi Tráng có ma túy bán không Q muốn mua để sử dụng, Tráng bảo Q lên nhà Tráng (ở Hang Kia, Mai Châu, Hòa Bình) để bàn bạc cụ thể; Q nhất trí, Tráng nói khi nào đi đến cây xăng A Phương thuộc địa phận xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ thì gọi cho Tráng để Tráng ra đón. Chiều ngày 31/5/2019 Q đem theo hơn 80.000.000 đồng đón xe khách đi từ nhà (Bắc Quang, Hà Giang) lên nhà Tráng để mua ma túy sử dụng, khoảng 16 giờ ngày 1/6/2019 Q đến cây xăng A Phương thuộc địa phận xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, xuống xe khách gọi điện, Tráng đi xe ô tô ra cây xăng A Phương đón Q về nhà Tráng (xóm Hang Kia, xã Hang Kia, Mai Châu, Hòa Bình). Tại nhà Tráng, Q hỏi mua Heroin và hồng phiến, Tráng nói Heroine giá 7000 USD/1 bánh còn hồng phiến giá 7.000.000 đồng/1 túi, Q nhất trí mua và đưa cho Tráng 78.000.000 đồng bảo Tráng bán cho một túi hồng phiến, số tiền còn lại mua Heroine, Tráng nhất trí, sau khi đưa tiền cho Tráng, Q nói sẽ ra nhà nghỉ chờ lấy ma túy, Tráng bảo một người đàn ông Q không quen biết điều khiển xe máy chở Q ra ngoài đường Quốc lộ 6, Q đón xe Taxi đến khu vực dốc 73 thị trấn Mộc Châu vào nghỉ ở một nhà nghỉ Q không biết tên, đến 16 giờ ngày 02/6/2019, Tráng gọi điện bảo Q đi đến cách cây xăng A Phương khoảng 300 mét để nhận ma túy. Q gọi cho lái xe Taxi đã chở Q chiều ngày 01/6/2019 (đã cho Q số điện thoại) ra nhà nghỉ chở Q về Hà Nội, khi xe Taxi đến cây xăng A Phương, Q đưa cho lái xe 500.000 đồng bảo lái xe mua xăng còn Q xuống xe đi bộ qua cây xăng A Phương đến chỗ hẹn, Q gặp một người phụ nữ không quen biết người này đưa cho Q một túi nilon bên trong đựng ma túy, sau khi nhận ma túy Q gọi lái xe Taxi đến đón đi về Hà Nội, khi đi đến khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, thì bị tổ công tác Công an tỉnh Sơn La yêu cầu dừng xe để kiểm tra, sợ bị phát hiện, Q đã hạ kính xe, vứt gói ma túy ra lề đường bên phải nhưng bị tổ công tác phát hiện và thu giữ.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-P1 ngày 24/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo như cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy;

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q từ 18 (Mười tám) năm đến 19 (Mười chín) năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải Q theo quy định của pháp luật; Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của luật sư Nguyễn Bá Linh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân Q: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện Vân Hồ, Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 02/6/2020, Nguyễn Xuân Q đã có hành vi mua 158,16 gam Heroine và 20,02 gam Methamphetamine (tổng khối lượng hai chất ma túy là 178,18 gam) mục đích để sử dụng, trên đường vận chuyển số ma túy về Hà Nội khi đi đến khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã bị tổ công tác Công an tỉnh Sơn La kiểm tra phát hiện và thu giữ. Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản sự việc lập hồi 18 giờ 05 phút ngày 02/6/2019, tại bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La do Tổ công tác số 2 lập, ghi lại sự việc: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/6/2019 Tổ công tác số 2 phối hợp cùng Công an huyện Vân Hồ yêu cầu dừng xe Taxi hiệu HUYNDAI BKS 26A 031.64 đang lưu thông trên Quốc lộ 6 hướng Sơn La - Hà Nội để tiến hành kiểm tra thì phát hiện đối tượng Nguyễn Xuân Q ngồi trong xe taxi đã có hành vi hạ cửa kính bên phải xe taxi xuống và ném một gói nilon màu đen ra cạnh đường. Tổ công tác đã kiểm tra khám nghiệm hiện trường phát hiện, thu giữ gói nilon màu đen bên trong có chứa một cục được gói bằng băng dính màu vàng do Q ném từ ô tô ra đường;

- Lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân Q tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa khai nhận toàn bộ hành vi mua ma túy để sử dụng, trên đường vận chuyển ma túy về Hà Nội thì bị phát hiện thu giữ;

- Biên bản ghi lời khai và bản tự khai của Vũ Thành T tài xế lái taxi trở Q làm chứng sự việc;

- Kết luận giám định số 1032 ngày 06 tháng 06 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu: Q2 là ma túy, loại Heroỉne; khối lượng của mẫu gửi giám định là l gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu: Q4 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là: 1,02 gam; Mẫu gửi giảm định ký hiệu: Q5 không phải là ma túy; khối lượng mẫu gửi giám định là: 0,2 gam” Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ 158,16 gam Heroine và 20,02 gam Methamphetamine. (Đối với hai viên nén màu xanh có khối lượng 0,2 gam kết luận giám định không phải chất ma túy do đó Q không phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,2 gam của hai viên nén màu xanh.)

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/6/2019, Nguyễn Xuân Q đã có hành vi mua 158,16 gam Heroine và 20,02 gam Methamphetamine (tổng khối lượng hai chất ma túy là 178,18 gam) với mục đích để sử dụng, trên đường vận chuyển đi theo Quốc lộ 6 về Hà Nội, đến khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La bị phát hiện thu giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, có tình tiết định khung “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án - Bản án số 21 ngày 18/3/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt Nguyễn Xuân Q 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2001; Bản án số 07 ngày 20/02/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt Nguyễn Xuân Q 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 26/09/2018, trong đó bản án số 07 ngày 20/02/2012 đã thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Về nhân thân bị cáo có nhân thân không tốt, đã có 02 tiền án đều về tội Mua bán trái phép chất ma túy, nay vì nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xét hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về người liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc 158,16 gam Heroine và 197 viên Methamphetamine có khối lượng 20,02 gam, Q khai mua của người đàn ông tên Tráng có số điện thoại 0357497388 trú tại Hang Kia, xã Hang Kia, Mai Châu, Hòa Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh tại xóm Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình có một đối tượng là Vàng A Tráng sinh năm 1979; năm 2002 Tráng bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 17 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy chấp hành án tại Trại giam Q1 ra trại ngày 30/8/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra tra cứu ảnh của Tráng tại tàng thư căn cước phạm nhân, lập bản ảnh cho Q nhận dạng kết quả Q không nhận dạng được ảnh người đã bán ma túy; xác minh số điện thoại 0357497388 Q khai là số điện thoại của Tráng, kết quả xác minh chủ thuê bao số điện thoại là Giàng Y Dế sinh năm 1979 trú tại xóm Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Binh. Cơ quan điều tra triệu tập Vàng A Tráng, Giàng Y Dế để điều tra làm rõ Vàng A Tráng, Giàng Y Dế đều không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ giao ma túy cho Q ngày 02/6/2019 tại khu vực đường dân sinh đi vào xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình và người đàn ông chở Q ra đường Quốc lộ 6 ngày 01/6/2019 Q đều không biết rõ họ tên địa chỉ do đó không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với người đàn ông tên Hà, quá trình điều tra bị cáo khai nhận gặp Hà tại khu vực huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và Hà có cho bị cáo số điện thoại di động của Tráng. Do bị cáo không biết họ, địa chỉ cụ thể của Hà ở đâu tại Thành phố Hà Nội nên không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

Đối với lái xe Taxi Vũ Thành T, tạm trú tại huyện V, tỉnh Sơn La, kết quả điều tra T chỉ là lái xe Tắc xi được Q thuê chở xuống Hà Nội, T không biết Q tàng trữ trái phép chất ma túy do đó T không liên quan đến vụ án.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 157,16 gam Heroine và 19 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích mẫu gửi giám định là chất ma túy, xét thấy là loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng với các test thử ma túy và các vỏ gói niêm phong ban đầu.

Đối với 01 túi nilon màu đen dạng hai quai xách, 01 túi nilon màu hồng, 01 túi nilon trong suốt, 06 đoạn băng dính màu vàng và 01 chỉ bản dấu vân tay ghi tên Nguyễn Xuân Q. Những đồ vật trên là các túi nilon thu thập để giám định đường vân tay của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo (trong đó có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO), quá trình điều tra có căn cứ xác định 02 chiếc điện thoại trên là tài sản của bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thu giữ của bị cáo và 01 chiếc thẻ ATM có số 9704050749485418 mang tên Nguyễn Xuân Q do ngân hàng AGRIBANK phát hành tại thời điểm bị bắt đến nay không có số dư trong tài khoản; 01 chứng minh thư nhân dân số 073329991 mang tên Nguyễn Xuân Q. Quá trình điều tra xác định là tiền, giấy tờ cá nhân bị cáo mang theo người khi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 17 (Mười bảy) năm tù; thời hạn tính từ ngày 03/6/2019.

3. Về xử lý vật chứng

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 157,16 gam Heroine và 19 gam Methamphetamine và vỏ gói được niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì Công an huyện Vân Hồ phát hành, còn nguyên niêm phong;

+ 01 (Một) Que thử ma túy Nguyễn Xuân Q được niêm phong trong một chiếc phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong;

+ Các mẫu giám định đường vân tay 321132 của vụ Nguyễn Xuân Q được niêm phong trong một chiếc hộp vật chứng, còn nguyên niêm phong;

+ 01 (một) Bản in dấu vân tay, họ tên Nguyễn Xuân Q.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, bên trong điện thoại có 02 sim, sim 1 có số thuê bao: 0376061411; Sim 2 có số thuê bao 0335922087; máy có hai imei (số imei 1 là 869347033339016; số imei 2 là 869347033339008) được niêm phong trong một chiếc phong bì còn nguyên niêm phong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobiistar, vỏ màu đen, viền đỏ, bên trong điện thoại có 01 sim, có số thuê bao: 0334531349; máy có một imeỉ là 352249020943343 được niêm phong trong một chiếc phong bì còn nguyên niêm phong.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân Q:

+ 01 (một) thẻ ATM số 9704050749485418 mang tên Nguyễn Xuân Q được niêm phong trong một chiếc phong bì còn nguyên niêm phong;

+ 01 (một) Chứng minh nhân dân có số 073329991, mang tên Nguyễn Xuân Q, do Công an tỉnh Hà Giang cấp ngày 23.11.2018;

+ 2.000.000đ (Hai triệu đồng) được niêm phong trong một chiếc phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2020 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La và Cục thi hành dân sự tỉnh Sơn la)

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27 tháng 4 năm 2020)./.

Cỡ chữ