vanban.org

Bản án 23/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Trà Lộc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
QUẬN!CẨM!LỆ!!
TP.!ĐÀ!NẴNG!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/ HSST!
Ngày 24/6/2020

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!CẨM!LỆ,!THÀNH!PHỐ!ĐÀ!NẴNG!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phùng Văn Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước

Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có: ông Phan Quang Đại Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:21/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

ĐẶNG!TRÀ!L; sinh ngày: 16/01/1994 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT, nơi cư trú: tổ 78, phường A K, quận T K, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Đặng Văn C (c) và bà Trà Thị Ú; gia đình có 03 người con, bị cáo là con út; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 28/8/2011 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 61/HSSTngày 28/8/2011. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/3/2020; có mặt tại phiên tòa.

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 18/3/2020, Đặng Trà L ngồi uống cà phê với một người bạn tên Sỹ ở Ngã tư Phước Tường thuộc khu vực phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L nhờ Sỹ liên lạc người bán ma túy để mua ma túy sử dụng. Sỹ điện thoại cho người tên Tân hỏi mua ma túy đá và Tân hẹn Sỹ nơi giao ma túy là khu công nghiệp Hòa Cầm. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43D1-642.62 đến khu công nghiệp Hòa Cầm thuộc tổ 09, phường Hòa Thọ Tây đến đây L gặp T đứng chờ ngoài đường, L đưa cho T 1.000.000 đ (Một triệu đồng) tiền mua ma túy, T đưa cho L 01 vỏ thuốc có chữ Sài gòn, bên trong đựng 01 gói ma túy đá, L kẹp võ thuốc đựng gói ma túy đá bên trong ở vị trí móc treo đồ ở giữa, phía trước xe mô tô 43D1-642.62 và điều khiển xe đi về. Khi đi đến số nhà 116 Nguyễn Như Đỗ, phường Hòa Thọ Tây thì bị công an bắt qủa tang.

Thu giữ của L: 01bao ni lon màu trắng kích thước khoảng (7,5x 4) cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong bì thư có ký hiệu HTT.01

01 vỏ thuốc có chữ Sài gòn, bên trong vỏ thuốc đựng 01bao ni lon màu trắng kích thước khoảng (10,5x 6,5) cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu HTT.02

01 điện thoại Oppo sim 0935.433.903;

01 xe mô tô biển số 43D1-642.62

Tại bản kết luận giám định số 94/GĐ-MT ngày 24/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất tinh thể đã màu trắng trong 01 gói nilon, niêm phong ký hiệu HTT.01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu HTT.01 là:1,605 gam.

Bản cáo trạng số 23/KSĐT ngày 8/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Đặng Trà L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Trà L từ 15 đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ vỏ bao gói và 1,361 gam mẫu ký hiệu HTT.01

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thuốc có chữ Sài gòn, bên trong vỏ thuốc đựng 01bao ni lon màu trắng kích thước khoảng (10,5 x 6,5) cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu HTT.02

-Trả lại cho Đặng Trà L thoại 01 điện thoại Oppo có sim số 0935.433.903. Tuy nhiên, vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho viêc thi hành án.

Riêng đối với xe mô tô Sirius BKS 43D1.-642.62, số khung 3240HY077206, số máy E3X9E202608 của bị cáo Đặng Trà L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thay đổi quan điểm so với bản cáo trạng đề nghị HĐXX trả chiếc xe mô tô Sirius BKS 43D1.-642.62, số khung 324HY077206, số máy E3X9E202608 cho bị cáo Đặng Trà L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Trà L nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai trái, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.

!

!

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Trà L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ ngày 18/3/2020, trước số nhà 160 Nguyễn Như Đỗ, Đặng Trà L đã có hành vi tàng trữ trái phép1,605 gam ma túy loại Methamphetamin thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ phát hiện bắt quả tang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Lộc đã cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ, hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, đối với bị cáo cần xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.

![4]!!Về Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ vỏ bao gói và 1,361 gam mẫu ký hiệu HTT.01

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thuốc có chữ Sài gòn, bên trong vỏ thuốc đựng 01bao ni lon màu trắng kích thước khoảng (10,5 x 6,5) cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu HTT.02

-Trả lại cho Đặng Trà L 01 chiếc điện thoại Oppo có sim số 0935.433.903. Tuy nhiên, vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Riêng đối với xe mô tô Sirius BKS 43D1- 642.62, số khung 3240HY077206, số máy E3X9E202608 đứng tên chủ sở hữu Đặng Trà L. HĐXX nhận định: Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội mà cụ thể bị cáo L khi mua được ma túy đã kẹp võ thuốc đựng gói ma túy đá bên trong ở vị trí móc treo đồ ở giữa, phía trước xe mô tô 43D1-642.62 và điều khiển xe đi. Như vậy, theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Hình sự qui định: “Vật trực tiếp liên quan đến tội phạm thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước”. Chiếc xe mô tô Sirius BKS 43D1- 642.62 của Đặng Trà L làm chủ sở hữu. Do đó cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là hoàn toàn phù hợp với pháp luật.

* Về án phí: Bị cáo L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Trà L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Trà L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 18/3/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ vỏ bao gói và 1,361 gam mẫu ký hiệu HTT.01

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thuốc có chữ Sài gòn, bên trong vỏ thuốc đựng 01bao ni lon màu trắng kích thước khoảng (10,5 x 6,5) cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu HTT.02

-Trả lại cho Đặng Trà L 01 chiếc điện thoại Oppo có sim số 0935.433.903. Tuy nhiên vẫn tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô Biển số đăng ký 43D1-642.62, nhãn hiệu YAMAHA; màu sơn Trắng Đen, số máy E3X9E202608, số khung 324HY077206, số loại: SIRIUS. Dung tích: 110. Tên chủ xe: Đặng Trà L.

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày11/5/2020).

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đặng Trà L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

!

Cỡ chữ