- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁ I THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày 29-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁ I THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Dương.
Bà Phạm Hồng Thiêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Pha ̣m Tiến Thanh̀ - Thư ký TAND huyê ̣n Thái Thu ̣y.
- Đại diê ̣n Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Thá i Thụy tham gia phiên tòa : Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công kh ai vu ̣ án hinh s ự thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3
̀ năm 2020, theo Quyết định đưa vu ̣ án ra xét x ử số: 24/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020, đối với:
Bị cáo Vũ Đình Q, sinh năm 1979 tại huyện T T, tỉnh Thái Bình.
Tên gọi khác: Thắng.
Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T N, huyện T T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Thôn, xã Th N, huyện T T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình D, sinh năm 1947 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1948; có vợ là Đoàn Thị D, sinh năm 1977 và hai con: con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 24/12/2019, đến ngày 27/12/2019 chuyển tạm giam đến nay. (có mặt)
- Ngườ i chứ ng kiến:
+ Ông Tạ Ngọc Chức, sinh năm 1960; Trú tại thôn Văn Hàn Bắc, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
+ Bà Phạm Thị Lý, sinh năm 1968; Trú tại thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đình Q sử dụng ma túy từ đầu năm 2019 và thường phải đi mua ma túy của những người không quen biết để sử dụng. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 24/12/2019, Q điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 17B6-26879 từ nhà đến thôn Chiêm Thuận, xã Thái Hồng gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 100.000 đồng. Q cất số ma túy vừa mua được cho vào túi áo bên trái phía trong áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Đến 10 giờ cùng ngày, Q về đến khu vực thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện T T thì bị tổ công tác Công an huyện T T yêu cầu dừng lại kiểm tra. Tại đây, trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và ông Tạ Ngọc Chức, bà Phạm Thị Lý, tổ công tác tiến hành kiểm tra người Q phát hiện và thu giữ tại túi áo trong, bên trái áo khoác Q đang mặc 01 gói bằng giấy, một mặt có hình nhiều màu sắc, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong mẫu số A1). Q khai đây là ma túy (loại Heroine), mua về để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra xe mô tô Q điều khiển không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã quản lý xe mô tô của Q, mời những người chứng kiến về trụ sở UBND xã Thái Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q nhưng không thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 497/KLGĐ-PC09 ngày 25/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong phong bì niêm phong mẫu A1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1741 gam”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định này.
Cáo trạng số 26 ngày 19/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thu ̣y đã truy tố bị cáo Vũ Đình Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về việc xử lý vật chứng; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên. Khi nói lờ i sau cùng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình Q đa khaĩ nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh như nô ̣i dung bản Cáo tra ̣ng đã truy tố
.
̀
Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T T lập ngày 24/12/2019 (bút lục số 54 - 56); lời khai của những người chứng kiến là ông Tạ Ngọc Chức và bà Phạm Thị Lý (bút lục số 103 - 110); Bản kết luận giám định số 497/KLGĐ-PC09 ngày 25/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 62); Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy (bút lục số 45). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 24/12/2019, tại trục đường thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình, Vũ Đình Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1741 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện T T phát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vũ Đình Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện T T đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đình Q là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự quy định tại
̀ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bi ̣ cáo thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm lưu hành nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 17B6-26879 mà Q sử dụng đi mua ma túy bị thu giữ, quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản chung của Q và vợ là chị Duyên, là phương tiện đi lại của cả gia đình, chị Duyên không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, có đơn xin lại xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Duyên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/12/2019.
3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ 0,1291 gam Heroine thu giữ của bị cáo Vũ Đình Q hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 497/KLGĐ-PC09.
(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T T, tỉnh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/3/2020).
4. Về án phí: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Đình Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đình Q có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/4/2020./.
̀
̉ Nơi nhận:
| - Bị cáo; - VKSND huyện Thái Thụy và VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện T T; - Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyện Thái Thu ̣; y - TAND tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM ́ THÂM PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thái Hà |