vanban.org

Bản án 23/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 13 (Mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/04/2020. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 và điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HSST
Ngày: 22/06/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lƣơng Anh Xuân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bạch Xuân Hiền.

Ông Trần Nam Trà.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 06 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 04 năm 2020 và theo quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/HSST-QĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình B – Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09 tháng 03 năm 1987; Nơi ĐKNKTT và chổ ở hiên nay: khối Tân L, phường L, Thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S – sinh năm 1952 và con bà: Trần Thị T (đã chết). Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/04/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình Th – sinh năm 1991.

Trú tại: Khối T, phường L, Thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 21/04/2020, Nguyễn Đình B điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu WaveS, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 37X3-5757 của anh Nguyễn Đình Th (em trai B, khi B sử dụng đi mua ma túy thì anh Th không biết) đi mua ma túy đá về để sử dụng. B sử dụng số điện thoại 0856338898 liên hệ với một người đàn ông tự giới thiệu tên H, ở khu vực xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ qua số điện thoại 0825983132 để mua ma túy đá thì H đồng ý bán ma túy cho B. B hỏi H “có không để anh cây năm”, ý nói 01 gói ma túy đá giá 500.000 đồng. H trả lời “có, lên mà lấy”. H hẹn B đi lên xã Nghĩa H để giao dịch mua bán ma túy, B đi từ Thị xã Thái H đến cây xăng dầu xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ thì gặp H, H vẫy tay ra hiệu cho B đi theo H. Khi đi đến khu vực cổng chào xóm Tân T xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ thì H và B dừng lại, B đi đến chổ H đứng, đưa cho H 500.000 đồng, H đưa lại cho B 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa gói ma túy đá. B đi ra khỏi khu vực cổng chào xóm Tân T, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đthì lấy gói ma túy đá từ trong bao thuốc lá Thăng Long ra cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy theo quốc lộ 48 về Thị xã Thái H tìm nơi sử dụng. Đến 16 giờ cùng ngày, khi Bảng đến địa phận xóm Quán M, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ thì bị lực lượng Công an huyện Nghĩa Đàn tiến hành kiểm tra, bắt quả tang. Khi bị công an kiểm tra do sợ hãi nên B vứt gói ma túy đá từ trong lòng bàn tay trái xuống phía bên trái đường theo hướng đi, cách trục bánh xe trước của B khoảng 30cm. Công an đa thu giữ 01 túi nilon trong suốt chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi ma túy dạng đá) do Nguyễn Đình B vứt xuống đất cách bánh xe máy phía trước của B khoảng 30cm.

Ngày 22/04/2020 cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn đã lấy mẫu vật thu giữ của Nguyễn Đình B trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An giám định. Tại bản kết luận giám định số 549/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 24/04/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình B gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,2 gam.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-NĐ ngày 07 tháng 05 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông tên H đã bán số ma túy trên cho Nguyễn Đình B do chưa xác minh được danh tính, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình B từ 12 đến 15 tháng tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, trả lại cho anh Nguyễn Đình Th 01 chiếc xe máy nhãn hiệu WaveS, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 37X3-5757 và đề nghị tịch thu, bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, võ nhựa màu đen, gắn sim có chữ “Live” màu cam, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình B dùng để liên lạc mua ma túy.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình Th trình bày: Vào ngày 21/4/2020 anh trai tôi là Nguyễn Đình B có mượn chiếc xe máy của tôi là loại xe có nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biểm kiểm soát 37X3-5757, xe đăng ký mang tên Nguyễn Thị G nhưng chị G đã tặng cho tôi là Nguyễn Đình Th vào ngày 05/02/2020 để đi công việc thì tôi đồng ý, sau đó đến chiều tối, tôi nhận được tin là anh trai tôi đi mua ma túy và bị công an bắt. Hiện nay xe máy của tôi đang bị tạm giữ tại cơ quan công an, nay tôi có nguyện vọng đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho tôi chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. Ngoài ra tôi không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định vào khoảng 16 giờ ngày 21/04/2020, tại khu vực xóm Quán M, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình B đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (Methamphetamine), với tổng khối lượng là 0,2 gam (không phẩy hai gam) nhằm mục đích để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bố bị cáo là người có công với cách mạng được hưởng chế độ thương binh hạng 4/4 là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, có thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan công an đã thu giữ 01 gói ma túy, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biểm kiểm soát 37X3-5757. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn tiến hành lấy mẫu các hạt tinh thể màu trắng gửi đi giám định là 0,1 gam, số còn lại có trọng lượng là 0,1 gam (ma túy) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nay cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, võ nhựa màu đen, gắn sim có chữ “Live” màu cam, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình B là vật bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy nên cần bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biểm kiểm soát 37X3-5757, số khung 9057Y-868570, số máy C09E-6689417, xe đăng ký mang tên Nguyễn Thị G nhưng chị G đã tặng cho anh Nguyễn Đình Th vào ngày 05/02/2020 là vật bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy, nhưng khi bị cáo mượn xe đi mua ma túy thì anh Th không biết nên cần phải trả lại cho anh Nguyễn Đình Th.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 13 (Mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/04/2020.

- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 và điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, đựng trong phong bì thư hình chữ nhật có đóng dấu niêm phong thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình B. Tuyên bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, võ nhựa màu đen, gắn sim có chữ “Live” màu cam, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình B. Tuyên trả lại cho anh Nguyễn Đình Th 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biểm kiểm soát 37X3-5757, số khung 9057Y-868570, số máy C09E-6689417, xe đăng ký mang tên Nguyễn Thị G nhưng chị G đã tặng cho anh Nguyễn Đình Th vào ngày 05/02/2020. Chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/05/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ