- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố Tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 23/2020/HS-ST Ngày 11/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Lê Thị Chanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bình Phương, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/20120TLST-HS ngày 21/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 28/02/2020 đối với bị cáo:
Cà Văn Ng; ( Tên gọi khác: Không) Sinh ngày 28/8/1996, tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện M, tỉnh S; nghề nghiệp: Trồng trợt; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Thái; giớ i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Cà Văn M, con bà Lò Thị X; bị cáo có vợ là Cà Thị D, có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 05 phút ngày 16/12/2019, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Cà Văn Ng đang đi bộ trên đường dân sinh, Ng đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói ni lon mầu xanh bên trong đựng 02 viên nén mầu hồng, trên bề mặt các viên đều có chữ WY. Ng khai nhận đó là ma túy tổng hợp Methamphetamine, Ng mua về để sử dụng, về nguồn gốc số ma túy mà có Ng khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết gặp ở đường dân sinh thuộc tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng, dẫn giải Cà Văn Ng về Công an huyện Mộc Châu để điều tra xử lý.
Ngày 16/12/2019, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng 02 viên nén mầu hồng trên bề mặt các viên điều có chữ WY nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine thu giữ của Cà Văn Ng có tổng khối lượng là 0,19 gam, lấy 01 viên khối lượng 0,09 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu “N”. Trưng cầu giám định xác định có phải ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?
Tại bản kết luận giám định số 18 ngày 18/12/2019 của phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn la kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,09 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình bắt giữ.
Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 20/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Cà Văn Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Cà Văn Ng từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine cùng 01 mảnh ni lon mầu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu của Cà Văn Ng.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/12/2019, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 16/12/2019, bị cáo Cà Văn Ng đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam Metahmphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về nhân thân thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy đã tự nguyện đi cai nghiện một lần nhưng vẫn không sửa chữa tiếp tục phạm tội. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra , xác minh và xét hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 viên = 0,1 gam Methamphetamine, cùng mảnh ni lon mầu xanh, 01 vỏ gói niêm phong ban đầu là vật Nhà nhước nghiêm cấm lưu hành và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Thờ i ha ̣n ta ̣m giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cà Văn Ng 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 viên = 0,1 gam Methamphetamine cùng mảnh ni lon mầu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. Thành viên HĐ xét xử TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA _________ BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi…......giờ..........phút, ngày 11 tháng 3 năm 2020. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh. ngày 21 tháng 02 năm 2020 đối với Cà Văn Ng. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: sơ để điều tra bổ sung hay không: Không. viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp: Hợp pháp. không: Không. viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hợp pháp. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không. Có căn cứ kết tội bị cáo và áp dụng pháp luật như sau: 1. Về tội danh: Bị cáo Cà Văn Ng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. 2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. 3. Về mức hình phạt: cáo tính từ ngày 16/12/2019. quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. 4. Về các vấn đề khác: tụng hình sự: gam Methamphetamine cùng 1 mảnh ni lon mầu xanh, 01 phong bì niêm phong ban đầu. Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HS/ST. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. Nghị án kết thúc vào hồi….....giờ..…..phút, cùng ngày. xử cùng nghe và ký tên. Thành viên HĐ xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Đỗ Như Khánh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________________ Tại: Phòng nghị án, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Lê Thị Chanh. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2020/TLST-HS Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ Tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát - Xử phạt bị cáo Cà Văn Ng 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị Thờ i ha ̣n ta ̣m giam của bi ̣ cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 viên = 0,1 Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |