- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày 18-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân
Bà Ngô Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1955, tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn T, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ước và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ Lê Thị V; có 05 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 252/QĐ-XPVPHC ngày 27 tháng 3 năm 2019 của Công an huyện TN về hành vi đánh bạc, Trần Văn Đ thi hành xong khoản tiền phạt (chưa Đ xóa); hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 11 tháng 10 năm 2019, Công an huyện TN kết hợp với Công an xã TH làm nhiệm vụ đã phát hiện tại nơi ở của bà Bùi Thị Ngận, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn Tây, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng một số đối tượng đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “phỏm”Đ thua bằng tiền là Trần Văn Đ, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Văn Qu. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.040.000 đồng và 01 bộ bài tu lơ khơ gồm 52 cây bài. Thu giữ của Trần Văn Đ số tiền 6.000.000 đồng, thu giữ của Qu số tiền 8.570.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Đ, Qu, Tu và C đều thống nhất khai: Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 11 tháng 10 năm 2019, các đối tượng đến nhà bà Ngận chơi, bà Ngận không có ở nhà, cả nhóm rủ nhau chơi đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm Đ thua bằng tiền. Cả nhóm ngồi trên giường tại phòng khách nhà bà Ngận, sử dụng bộ bài tu lơ khơ 52 cây sẵn có tại nhà bà Ngận để đánh bạc. Cả nhòm thống nhất hình thức chơi và tỉ lệ cá cược như sau: Người thắng cuộc thì những người về nhì, ba, tư lần lượt trả tiền cho người thắng bạc là 5.000 đồng, 10.000 đồng, 15.000 đồng. Mỗi người đều Đ chia 08 lá bài, còn lại để bài lọc ở dưới chiếu, người chơi lần lượt bốc bài dưới chiếu rồi loại một lá bài khác trên tay xuống để còn lại 08 lá bài. Bài phỏm là có ít nhất ba quân xếp dọc theo thứ tự cùng chất, hoặc ngang cùng số khác chất. Bài cháy là bài không có phỏm thì người thu phải trả cho người về nhất 20.000 đồng. Người chơi báo bài ù tức là 08 lá bài thành 01 hoặc 02 phỏm thì những người thua phải trả 30.000 đồng/người. Người thắng cuộc là người ù hoặc có số điểm còn lại ít nhất.
Tại đám bạc, Đ mang theo 6.300.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, còn 6.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Qu mang theo 8.670.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại dùng để mua thuốc trị bệnh, thua 30.000 đồng, khi Công an bắt thu tại chỗ Qu ngồi 70.000 đồng. Tu mang theo 400.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi Công an bắt thu tại chỗ Tu 550.000 đồng. C mang theo 240.000 đồng, khi Công an bắt thị tại chỗ C 120.000 đồng. Cả nhóm chơi đến 14 giờ 45 phút, cùng ngày thì bị Công án phát hiện và thu giữ.
Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã truy tố Trần Văn Đ về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TN vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, Điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách tương ứng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về vật chứng: Đề nghị xử lý tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ và tịch thu số tiền 1.040.000 đồng sung quỹ nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Do bị cáo Trần Văn Đ là người cao tuổi nên Đ miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng. Bị cáo đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo và đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TN, Viện kiểm sát nhân dân huyện TN và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã Đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Đ chứng minh bởi lời khai của người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Đ thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa nên có đủ căn cứ xác định: Ngày 11 tháng 10 năm 2019, bị cáo Trần Văn Đ đã dùng số 300.000 đồng để đánh bạc dưới hình thức “ đánh phỏm”, Đ thua bằng tiền cùng với các đối tượng Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Văn Qu. Trong vụ án này, số tiền thu tại chiếu bạc xác định là 1.040.000 đồng, không đủ để truy tố các đối tượng tham gia về tội đánh bạc nên đối với Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Văn Qu đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, còn đối với bị cáo Trần Văn Đ sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Với hành vi nêu trên của bị cáo Đ, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự đã phạm tội “Đánh bạc”. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết phải có hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, lời luận tội và đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Vì vậy, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy không cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại T giam mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo Đ hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát và giáo dục là đủ để răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo đều không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/02/2020 thể hiện các vật chứng cần xử lý gồm: 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây, đã qua sử dụng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN là phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.040.000 đồng, theo Biên lai thu tiền số 0000242 ngày 24/02/2020 là tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền thu giữ của Đ là 6.000.000 đồng và của Qu là 8.570.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Qu và Đ là phù hợp với pháp luật.
Trong vụ án này, trong vụ án này, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Văn Qu có hành vi đánh bạc cùng với bị cáo Trần Văn Đ nhưng số tiền dùng để đánh bạc chưa đủ truy tố trách nhiệm hình sự, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý hành chính đối với C, Tu, Qu. Đối với bà Bùi Thị Ngận, bà Ngận khai: Tại thời điểm các đối tượng vào nhà bà đánh bạc bà Ngận không có ở nhà nên không biết việc các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Do bị cáo Trần Văn Đ là người cao tuổi theo Điều 2 của Luật Người cao tuổi nên thuộc trường hợp sự Đ miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày Tu án. Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người Đ hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người Đ hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây, đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN, thành phố Hải Phòng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.040.000 đồng, tại Biên lai thu tiền số 0000242 ngày 24/02/2020 của Chi Cục thi hành án huyện TN, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn Đ Đ miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tu án.
Trường hợp Bản án này Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện TN; - VKSND TP Hải Phòng; - CQ ĐT Công an huyện TN; - CQTHS hình sự; - T tạm giam CA TP Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện TN; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, Người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Công Hạ - HoàngĐắc Hân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Sơn |