- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Thành - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 10 năm 2019.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày: 27/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Ông Nguyễn Tư Sanh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2020/HSST ngày 15/01/2020, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 31 tháng 8 năm 1970 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Thường trú: X Tôn Đản, Phường Y, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn B; con bà: Đoàn Thị L Có vợ tên Lê Bích V; Tại phiên tòa bị cáo khai có một người con sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/6/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 10/5/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 09/8/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2019 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Huy T, sinh năm 1991; nơi cư trú: X Khu phố 5, phường Y, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã đi cai nghiện nhiều lần nhưng tái nghiện từ khoảng đầu tháng 9/2019. Ngày 01/10/2019, T sử dụng xe honda biển số 60F2-152.58 đi dự sinh nhật của người bạn tên Cường, Cường có đưa cho T số ma túy thuốc lắc, khay bỏ trong vào trong cốp xe của T với mục đích để sử dụng cho lần đi chơi sau. Vào khoảng 21 giờ cùng ngày (01/10/2019) T điều khiển xe đến tiệm hớt tóc trên đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 đón vợ là Lê Bích Vân về nhà. Trên đường đi, Vân nhận được điện thoại của bạn tên Linh nhờ Vân đến khu vực Thuận Kiều Plaza xem dùm người bạn tên Nam bị tai nạn giao thông, Vân kêu T chở Vân đi vào Quận 5. Lúc 23 giờ 30 phút, T và Vân đi đến trước số 190 Hồng Bàng, phường 15 Quận 5, thì bị tổ tuần tra đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 5 kết hợp Công an Phường 15 Quận 5 kiểm tra hành chính, phát hiện trong cốp yên xe của T có 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 hộp kim loại màu cam có cất giấu 01 gói nilon chứa tinh thể không màu, 01 viên nén màu hồng, 03 mảnh vụn màu xám, 02 viên nén màu nâu, 02 mảnh vụn màu đỏ. T khai nhận là ma túy nên tổ công tác đưa cả hai về Công an Phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Phạm Văn T khai tên giả là Phan Trường Giang. Quá trình điều tra, xác minh được lý lịch của Phạm Văn T nên Công an Quận 5 ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can. T khai nhận hành vi tàng trữ số ma túy với mục đích để sử dụng.
Lê Bích Vân khai không biết việc T cất giấu ma túy trong cốp xe tuy nhiên Vân thừa nhận có sử dụng ma túy do đó Công an Quận 5 chuyển xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng.
Đối với đối tượng tên Cường không rõ lai lịch đã đưa số ma túy thuốc lắc cho T với mục đích để sử dụng cho lần đi chơi sau. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ:
01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 hộp kim loại màu cam có cất giấu 01 gói nilon chứa tinh thể không màu, 01 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu nâu, 03 mảnh vụn màu xám, 02 mảnh vụn màu đỏ; 01 xe mô tô hiệu honda SH150 biển số 60F2-152.58, số máy ZDCKF08A07F158724, KF08E-0092863-KTGE1 và giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu Nokia và số tiền 10.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 1859/KLGĐ-H ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3208g (một phẩy ba hai không tám gam), loại Ketamine;
02 mảnh vụn màu đỏ (ký hiệu mẫu m2) có khối lượng 0,3727g (không phẩy ba bảy hai bảy gam) không tìm thấy ma túy;
01 viên nén màu hồng được ký hiệu mẫu m3 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3939g (không phẩy ba chín ba chín gam) loại MDMA;
02 viên nén màu nâu được ký hiệu mẫu m4 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9485g (không phẩy chín bốn tám năm gam) loại Ketamine, MDMA, Methamphetamine;
03 mảnh vụn màu xám được ký hiệu mẫu m5 có khối lượng 0,7123g (không phẩy bảy một hai ba gam) không tìm thấy ma túy.
Bản cáo trạng số: 15/CTr-VKS ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng gồm 1,3208g (một phẩy ba hai không tám gam), loại Ketamine; 0,3939g (không phẩy ba chín ba chín gam) loại MDMA và 0,9485g (không phẩy chín bốn tám năm gam) loại Ketamine, MDMA, Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Văn T với mức án từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn T không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép gồm 1,3208g (một phẩy ba hai không tám gam), loại Ketamine; 0,3939g (không phẩy ba chín ba chín gam) loại MDMA và 0,9485g (không phẩy chín bốn tám năm gam) loại Ketamine, MDMA, Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu và từng bị bắt đưa đi cai nghiện bắt buộc một thời gian nhưng vẫn chưa từ bỏ việc sử dụng ma túy, nên cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cai nghiện ma túy và cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Lê Bích Vân do không biết việc T cất giấu ma túy trong cốp xe tuy nhiên Vân thừa nhận có sử dụng ma túy do đó Công an Quận 5 chuyển xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng là đúng quy định nên Tòa không xét.
Đối với đối tượng tên Cường không rõ lai lịch đã đưa số ma túy thuốc lắc cho T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn T là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Về xử lý vật chứng:
01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 hộp kim loại màu cam có cất giấu 01 gói nilon chứa tinh thể không màu, 01 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu nâu, 03 mảnh vụn màu xám, 02 mảnh vụn màu đỏ qua giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh thì Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3208g, loại chất ketamine; 01 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3939g, loại chất MDMA; 02 viên nén màu nâu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9485g loại MDMA, Methamphetamine, ketamine; 03 mảnh vụn màu xám và 02 mảnh vụn màu đỏ không tìm thấy chất ma túy. Sau giám định, số ma túy còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1859/19 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Võ Chí Hải. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 xe mô tô hiệu honda SH150 biển số 60F2-152.58, số máy ZDCKF08A07F158724, KF08E-0092863-KTGE1 và giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua giám định, số khung và số máy nguyên thủy. Xe do Phạm Huy Toàn ngụ 18/18 KP5, Trảng Dài, Biên Hòa đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4/2018 anh Toàn đã bán xe cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên. Phạm Văn T khai mua xe này của một người phụ nữ không làm giấy tờ dùng làm phương tiện đi lại. Xét chiếc xe (có giấy chứng nhận đăng ký xe) trên bị cáo có được không rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời gian nhất định, hết thời hạn thông báo mà không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu Nokia và số tiền 10.000.000 đồng. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 10 năm 2019.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3208g, loại chất ketamine; 01 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3939g, loại chất MDMA; 02 viên nén màu nâu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9485g loại MDMA, Methamphetamine, ketamine; 03 mảnh vụn màu xám và 02 mảnh vụn màu đỏ không tìm thấy chất ma túy. Sau giám định, số ma túy còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 1859/19 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Võ Chí Hải.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu 01 (một) xe máy honda SH150 biển số 60F2-152.58, số máy ZDCKF08A07F158724, KF08E-0092863-KTGE1 và giấy chứng nhận đăng ký xe trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu Nokia và số tiền 10.000.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Quận 5 tại Kho bạc Nhà nước Quận 5, do Võ Chí Hải nộp vào ngày 11/12/2019).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5; - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |