vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”;

p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Vi Trọng Đ: số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày 29-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đình Cuối

Ông Phạm Đình Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Mẫn- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối v i các bị cáo:

1. Vi Trọng Đ; sinh ngày 14 tháng 7 năm 1984; tại: thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; Nơi cư trú: tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Nùng; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn C (SN: 1959) và bà: Trịnh Thị K (SN: 1960); có vợ Trương Thị T (SN: 1985) và 02 con, l n sinh năm 2010, nhỏ sinh năn 2013; tiền án: không; tiền sự: Ngày 27/8/2019, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”; về nhân thân: Ngày 10/12/2009, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”; hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Thị Thanh L; sinh ngày 11 tháng 12 năm 1976; tại: xã Q, huyện H, tỉnh Q; Nơi cư trú: thôn 2, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; chổ ở hiện nay: tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Thanh Th (SN: 1942) và bà: Nguyễn Thị L1 (SN: 1947); có chồng: Nguyễn Thành Ph (SN: 1976) và 02 con, l n sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: Ngày 27 tháng 8 năm 2019, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”; về nhân thân: Ngày 27/5/2011, bị TAND huyện Phư c Sơn xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”; hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Thị Ng; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1978; tại: xã L, huyện S, tỉnh Q; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q m; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Đ (chết) và bà: Bùi Thị Y (chết); có chồng: Đào Văn S (SN: 1978) và có 02 con, l n sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: Ngày 12/9/2019, Công an huyện Quế Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”; về nhân thân: Ngày 07/3/2013, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”; hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thị Mỹ Tr; sinh ngày 21 tháng 10 năm 1972; tại: thành phố Đ; Nơi cư trú: tổ dân phố số 2, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn H (SN: 1942) và bà: Nguyễn Thị K (chết); có chồng: Trần Ngọc Q (SN: 1966) và có 05 con, con l n nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: Ngày 27 tháng 8 năm 2019, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”; về nhân thân: Ngày 07/3/2006, Công an thị trấn Khâm Đức, huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức phỏm”, hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

5. Trần Thị T (tên gọi khác: Mừng); sinh ngày 01 tháng 6 năm 1990; tại: xã T, huyện Th, tỉnh T; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Ch (SN: 1961) và bà: Trần Thị L2 (SN: 1965); có chồng: Nguyễn Quang T2 (SN: 1984) và có 03 con, l n nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: Ngày 27/8/2019, Công an huyện Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 9.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc; rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”; hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn Q1, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q, vắng mặt.

Đàm Văn Q2, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q, có mặt.

Triệu Thị Th2, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q, có mặt.

Nguyễn Cảnh L3, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q m, có mặt.

- Người làm chứng:

Sầm Thị Thu H2, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ 50 phút, ngày 01 tháng 5 năm 2020, tại bãi đất trống phía sau nhà bà Triệu Thị Th2 thuộc tổ dân phố số 1, thị trấn Khâm Đức, huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam, Công an huyện Phư c Sơn phát hiện bắt quả tang và tiến hành lập biên bản sự việc đối v i một nhóm người đang chơi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dư i hình thức xóc đĩa gồm: Đàm Văn Q2, Trần Thị T, Nguyễn Văn Q1, Triệu Thị Th2, Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Ngô Thị Ng (đối v i Vi Trọng Đ và Nguyễn Cảnh L3 đã chạy trốn khi bị phát hiện, sau đó đã đến Cơ quan điều tra để khai nhận hành vi của mình). Công an huyện Phư c Sơn thu giữ trên chiếu bạc 360.000 đồng tiền Việt Nam (gồm 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 08 tờ mệnh giá 20.000 đồng và 10 tờ mệnh giá 10.000 đồng) và các dụng cụ phục vụ việc đánh bạc gồm: 01 chiếc chiếu nhựa màu trắng- xanh- đỏ, 01 chiếc mền màu xanh lơ, 01 cái chén sứ màu trắng, 01 cái đĩa sứ màu trắng, 02 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ. Kiểm tra và thu giữ trên người Nguyễn Thị Mỹ Tr số tiền 1.000.000 đồng, thu giữ trên người Nguyễn Văn Q1 số tiền 1.500.000 đồng, thu giữ trên người Đàm Văn Q2 số tiền 500.000 đồng và thu giữ trên người Trần Thị Thanh L số tiền 80.000 đồng.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Chiều ngày 01 tháng 5 năm 2020, Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T, Nguyễn Văn Q1, Đàm Văn Q2, Nguyễn Cảnh L3 đến nhà bà Triệu Thị Th2 để ăn Lễ 30/4 và 01/5. Sau khi tổ chức ăn xong thì các đối tượng cùng rủ nhau ra bãi đất trống phía sau nhà bà Triệu Thị Th2 để chơi đánh bạc trái phép dư i hình thức xóc đĩa và lấy bộ dụng cụ từ nhà bà Thủy gồm: 01 chiếc chiếu nhựa, 01 chiếc mền, 01 cái chén sứ, 01 cái đĩa sứ và 04 con vị hình tròn được Vi Trọng Đ cắt ra từ lá bài tú lơ khơ. Hình thức chơi đánh bạc trái phép dư i hình thức xóc đĩa được các đối tượng thực hiện như sau: Người cầm cái (nhà cái) sử dụng bộ chơi xóc đĩa gồm 01 cái đĩa, 01 cái chén và 04 con vị hình tròn được cắt từ lá bài tú lơ khơ, lấy 04 con vị bỏ vào một cái đĩa rồi úp cái chén lên trên dùng hai tay rung (xóc) lên, sau khi nhà cái rung xong đặt xuống chiếu bạc thì các con bạc đặt tiền vào mặt chẵn hoặc lẻ theo sự thỏa thuận trư c (mặt chẵn và lẻ tương ứng v i phía tay phải và tay trái theo hư ng ngồi của nhà cái). Khi các con bạc đặt tiền xong thì nhà cái mở ra, kết quả nếu bốn con vị cùng một mặt trắng hoặc đen hoặc hai trắng, hai đen thì là chẵn; nếu ba con vị cùng một mặt đen, một con mặt trắng hoặc ngược lại ba con mặt trắng, một con mặt đen thì là lẻ. Tỷ lệ thắng thua là 1 chung 1.

Quá trình đánh bạc thì Vi Trọng Đ là người trực tiếp cầm cái xóc đĩa, những người còn lại tham gia đặt cược bằng tiền.

V i hình thức như trên, các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền để đánh bạc và thắng thua cụ thể như sau:

Vi Trọng Đ tham gia v i vai trò là người cầm cái xóc đĩa, thời điểm bị Công an huyện Phư c Sơn phát hiện bắt quả tang thì Đ đã chạy trốn và đang thắng cược v i số tiền khoảng 1.500.000 đồng, số tiền Đ mang theo sử dụng để đánh bạc là 500.000 đồng. Khi chạy trốn Đ đã hốt không hết số tiền trên ở dư i chiếu bạc nên còn lại số tiền 360.000 đồng. Quá trình chạy trốn thì Đ đánh rơi toàn bộ số tiền thắng cược và số tiền sử dụng để đánh bạc.

Trần Thị Thanh L tham gia đặt cược hai ván, mỗi ván cược 10.000 đồng và đều thua cược. Khi tham gia đánh bạc, Lan mang theo 100.000 đồng để sử dụng vào việc đánh bạc, số tiền còn lại 80.000 đồng đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ.

Ngô Thị Ng sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và đều thua cược.

Nguyễn Thị Mỹ Tr mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng, một ván thắng và một ván thua nên vẫn còn nguyên số tiền 1.000.000 đồng. Công an huyện Phư c Sơn đã thu giữ số tiền trên.

Trần Thị T khi tham gia đánh bạc có mang theo số tiền 220.000 đồng, tham gia cược nhiều ván, mỗi ván cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và đã thua hết số tiền trên.

Nguyễn Văn Q1 mang theo số tiền 1.500.000 đồng khi tham gia đánh bạc, số tiền này đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ, trong đó ông Q1 khai nhận sẽ sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, còn lại 1.000.000 đồng để mua thuốc chữa bệnh (do bị tai nạn giao thông). Khi đánh bạc, Quý tham gia cược hai ván, mỗi ván cược tiền 50.000 đồng và thua cả hai ván nhưng chưa đưa tiền thua cược cho Vi Trọng Đ (người thắng cược).

Triệu Thị Th2 tham gia đánh bạc có mang theo số tiền 500.000 đồng, Thủy tham gia đặt cược năm ván và đã thua hết số tiền trên.

Đàm Văn Q2 tham gia đánh bạc có mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, ông Q2 tham gia đặt cược 5 đến 6 ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và đã thua v i số tiền 500.000 đồng, số tiền 500.000 đồng còn lại đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ.

Nguyễn Cảnh L3 khi tham gia đánh bạc có mang theo 200.000 đồng, đặt cược 2 ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và thua cả hai ván cược.

Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và số tiền mà các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 4.220.000 đồng (dư i 5.000.000 đồng), chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối v i Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Ngô Thị Ng, Trần Thị T đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Đến thời điểm vi phạm lần này (01/5/2020) vẫn chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Phư c Sơn, các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Ngô Thị Ng, Trần Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp v i biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, phù hợp v i lời khai của những người có liên quan và các chứng cứ khác của vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và như nội dung cáo trạng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối v i các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã khai báo thành khẩn, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vi Trọng Đ từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng. Xử phạt các bị cáo Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Không xử phạt bổ sung các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Về xử lý vật chứng: p dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu để tiêu hủy:

- 01 chiếc chiếu nhựa màu trắng - xanh - đỏ, rộng 1,6m, dài 2,1m

- 01 chiếc mền màu xanh lơ, sọc đỏ trắng, rộng 1,6m, dài 1,8m.

- 01 cái chén sứ màu trắng, đường kính 11cm, đã qua sử dụng.

- 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, đã qua sử dụng.

- 02 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ, đường kính 2,3cm.

Tịch thu số tiền 2.440.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nư c; trả cho Nguyễn Văn Q1 số tiền 1.000.000 đồng đã bị thu giữ vì Nguyễn Văn Q1 không có ý định sử dụng số tiền này để đánh bạc.

Các bị cáo đồng ý luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phư c Sơn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp v i quy định của pháp luật; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, Điều tra viên đã có thiếu sót trong việc lập biên bản sự việc ban đầu, không thu giữ chứng cứ liên quan đến việc phạm tội của bị cáo Ngô Thị Ng, trong quá trình lấy lời khai, biên bản hỏi cung các bị can; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thống nhất, nhưng không đối chất làm rõ về số tiền của bị cáo Ng đem theo và số tiền dùng vào việc đánh bạc, chưa làm rõ bị can Đ đem theo số tiền đánh bạc bao nhiêu mà chỉ căn cứ vào lời khai của bị can Đ, nên quá trình điều tra chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Những mâu thuẫn, thiếu sót của Điều tra viên được Kiểm sát viên phúc cung và được thẩm tra, đối chất làm rõ tại phiên tòa. Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố là sai sót về phần thủ tục, chứ không làm thay đổi hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

. Tại phiên tòa, các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp v i lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào chiều ngày 01/5/2020, tại nhà bà Triệu Thị Th2 tổ chức ăn lễ, sau khi ăn xong thì các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T và các đối tượng Đàm Văn Q2, Nguyễn Văn Q1, Triệu Thị Th2, Nguyễn Cảnh L3 ra bãi đất trống phía sau nhà bà Thủy để chơi đánh bạc được thua bằng tiền dư i hình thức xóc đĩa, Vi Trọng Đ là người cầm cái, khi đánh xóc đĩa thì Đ có mang theo 500.000đ, quá trình chơi xóc đĩa Đ thắng khoảng 1.500.000đ đến 2.000.000đ, khi Công an vào kiểm tra thì Đ hốt tiền trên chiếu bạc và bỏ chạy, quá trình bỏ chạy Đ bị mất hết số tiền đã thắng bài.

Trần Thị Thanh L đem theo số tiền 100.000 đồng để sử dụng vào việc đánh bạc, Lan tham gia đặt cược hai ván, mỗi ván cược 10.000 đồng và đều thua cược, số tiền còn lại 80.000 đồng đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ.

Ngô Thị Ng ship đồ ăn cho Triệu Thị Th2 và Thủy trả cho Ng 200.000 đồng, Ng sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc và tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và đều thua cược. Còn Ng khai có mang theo túi xách có điện thoại và 250.000.000 đồng tiền ship gà, nhưng khi Ng vào nhà Triệu Thị Th2 thì Ng để túi xách, điện thoại trong cốp xe và Ng không sử dụng số tiền này để đánh bạc. Quá trình điều tra Ng khai chưa thống nhất là do Ng đã bị xử lý hành chính, sợ bị xử lý trách nhiệm hình sự, nên đã khai báo không đúng sự thật.

Nguyễn Thị Mỹ Tr mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng, một ván thắng và một ván thua nên vẫn còn nguyên số tiền 1.000.000 đồng. Công an huyện Phư c Sơn đã thu giữ số tiền trên.

Trần Thị T khi tham gia đánh bạc có mang theo số tiền 220.000 đồng, tham gia cược nhiều ván, mỗi ván cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và đã thua hết số tiền trên.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Q1 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, Quý tham gia cược hai ván, mỗi ván cược tiền 50.000 đồng và thua cả hai ván nhưng chưa đưa tiền thua cược cho Vi Trọng Đ.

Triệu Thị Th2 tham gia đánh bạc số tiền 500.000 đồng, Thủy tham gia đặt cược năm ván và đã thua hết số tiền trên. Ngoài ra, Thủy khai thường ngày Ng đi ship hàng đều mang theo túi xách và điện thoại bên người, ngày 01/5/2020, khi Ng đến nhà Thủy và tham gia đánh xóc đĩa, Ng có mang theo túi xách và điện thoại hay không thì Thủy không nh . Thủy trả tiền ship gà cho Ng là 200.000 đồng. Do đã uống rượu say, nên các lời khai trong quá trình điều tra của Thủy không thống nhất.

Đàm Văn Q2 tham gia đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng và đã thua v i số tiền 500.000 đồng, số tiền 500.000 đồng còn lại đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ.

Nguyễn Cảnh L3 khi tham gia đánh bạc có mang theo 200.000 đồng, đặt cược 2 ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và thua cả hai ván cược.

Trên cơ sở lời khai của các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có cơ sở để kết luận Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền. Số tiền thu trên chiếu bạc là 360.000 đồng và số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 3.860.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và số tiền mà các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 4.220.000 đồng. Mặc dù, số tiền thu trên chiếu bạc và số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc dư i 5.000.000đ chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phư c Sơn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T tội “Đánh bạc” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt của các bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

. Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Thời gian gần đây tình hình trật tự an toàn trên điạ bàn huyện phức tạp, các đối tượng thường xuyên tụ tập để đánh bài được thua bằng tiền làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể cho nhau, nên phạm tội không có tổ chức. Tuy nhiên, xét về hành vi, vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Vi Trọng Đ là người cầm cái để cho các con bạc khác đặt cược và Đ đã dùng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Đ đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đây là bài học để lao động có ích cho xã hội mà Đ lại tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”. Vì vậy, xử phạt bị cáo mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.

Đối v i bị cáo Trần Thị Thanh L: Lan đem theo số tiền 100.000 đồng để sử dụng vào việc đánh bạc, Lan tham gia đặt cược hai ván, mỗi ván cược 10.000 đồng và đều thua cược, số tiền còn lại 80.000 đồng đã bị Công an huyện Phư c Sơn thu giữ. Mặc dù, số tiền Lan dùng vào việc đánh bạc không l n, nhưng Lan đã 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” và 1 lần bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Nhưng Lan lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Vì vậy, xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối v i bị cáo Ngô Thị Ng: Quá trình điều tra Ng khai báo mâu thuẫn khi thì Ng khai không tham gia đánh bạc mà chỉ bốc dùm cho Nguyễn Văn Q1 02 ván, khi thì Ng khai có sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng và đều thua cược. Lời khai của bị cáo gây khó khăn cho cơ quan điều tra, mặc dù số tiền Ng dùng vào việc đánh bạc không l n, nhưng Ng cũng đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đây là bài học để lao động có ích cho xã hội mà Ng lại tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”, nên xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội.

Đối v i bị cáo Nguyễn Thị Mỹ Tr: Tr mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia cược hai ván, mỗi ván cược 100.000 đồng, một ván thắng và một ván thua nên vẫn còn nguyên số tiền 1.000.000 đồng. Công an huyện Phư c Sơn đã thu giữ số tiền trên. Tr cũng đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đây là bài học để lao động có ích cho xã hội mà Tr lại tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”, hơn nữa số tiền Tr dùng để đánh bạc l n hơn so v i các bị cáo khác, nên xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội.

Đối v i bị cáo Trần Thị T: Khi tham gia đánh bạc T mang theo số tiền 220.000 đồng, tham gia cược nhiều ván, mỗi ván cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và đã thua hết số tiền trên. T cũng đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc; rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa”, mặc dù số tiền T dùng vào việc đánh bạc lần này không l n, nhưng cũng cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội của bị cáo.

. Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo thành khẩn khai báo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền là hình phạt chính đối v i các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đối v i bị cáo Vi Trọng Đ, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối v i bị cáo Trần Thị T khi phạm tội có 03 con còn nhỏ và có một đứa bị tàn tật, nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T.

. Ngoài hình phạt chính, đáng lẽ ra các bị cáo còn có thể bị xử phạt bổ sung theo qui định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo bị xử hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không xử phạt bổ sung.

. Đối v i Nguyễn Văn Q1, Triệu Thị Th2, Đàm Văn Q2 và Nguyễn Cảnh L3 cùng tham gia đánh bạc đánh phép. Tuy nhiên, số tiền chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Phư c Sơn đã xử phạt hành chính.

.Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Công an huyện Phư c Sơn đã thu giữ: 01 chiếc chiếu nhựa màu trắng - xanh - đỏ, rộng 1,6m, dài 2,1m; 01 chiếc mền màu xanh lơ, sọc đỏ trắng, rộng 1,6m, dài 1,8m; 01 cái chén sứ màu trắng, đường kính 11cm, đã qua sử dụng; 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, đã qua sử dụng; 02 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ, đường kính 2,3cm. Số tiền 3.440.000 đồng.

p dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu của Triệu Thị Th2: 01 chiếc chiếu nhựa màu trắng - xanh - đỏ, rộng 1,6m, dài 2,1m; 01 chiếc mền màu xanh lơ, sọc đỏ trắng, rộng 1,6m, dài 1,8m; 01 cái chén sứ màu trắng, đường kính 11cm, đã qua sử dụng; 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, đã qua sử dụng; 02 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ, đường kính 2,3cm, do Thủy dùng những công cụ này vào việc phạm tội và không có giá trị để tiêu hủy.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nư c số tiền thu giữ trên chiếu bạc 360.000 đồng, Nguyễn Thị Mỹ Tr số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn Q1 số tiền 500.000 đồng, Đàm Văn Q2 số tiền 500.000 đồng và Trần Thị Thanh L số tiền 80.000 đồng. Do các đối tượng sử dụng số tiền này vào việc đánh bạc. Trả cho Nguyễn Văn Q1 số tiền 1.000.000 đồng, vì Nguyễn Văn Q1 không sử dụng số tiền này để đánh bạc.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: p dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Vi Trọng Đ, Trần Thị Thanh L, Ngô Thị Ng, Nguyễn Thị Mỹ Tr, Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”;

- p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Vi Trọng Đ: số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Ngô Thị Ng: số tiền 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Nguyễn Thị Mỹ Tr: số tiền 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c.

- p dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Trần Thị Thanh L: số tiền 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c.

- p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Trần Thị T: số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về xử lý vật chứng:

p dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu của Triệu Thị Th2: 01 chiếc chiếu nhựa màu trắng-xanh- đỏ, rộng 1,6m, dài 2,1m; 01 chiếc mền màu xanh lơ, sọc đỏ trắng, rộng 1,6m, dài 1,8m; 01 cái chén sứ màu trắng, đường kính 11cm, đã qua sử dụng; 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, đã qua sử dụng; 02 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ, đường kính 2,3cm để tiêu hủy.

Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Phư c Sơn đang tạm giữ tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/8/2020.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nư c số tiền 2.440.000 đồng (Trong đó thu giữ trên chiếu bạc 360.000 đồng, Nguyễn Thị Mỹ Tr 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn Q1 500.000 đồng, Đàm Văn Q2 500.000 đồng và Trần Thị Thanh L 80.000 đồng). Trả cho Nguyễn Văn Q1 số tiền 1.000.000 đồng, vì Nguyễn Văn Q1 không sử dụng số tiền này để đánh bạc.

Số tiền hiện Công an huyện Phư c Sơn đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1053629.00000 Kho bạc Nhà nư c huyện Phư c Sơn.

- n phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ