vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Tráng A G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Căn cứ điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày 06/5/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Ngọc Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hải và bà Lê Thị Bống

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngoãn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La: Bà Đinh Thị Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 25/2020/TLST-HS ngày 27/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020 đối với bị cáo Tráng A G, sinh ngày 01/01/1987, cư trú quán tại bản Co S, xã Đông S, huyện Mộc C, tỉnh Sơn La, nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông H và bà D (đều đã chết), vợ là Vàng Thị S (D), có 03 con; tiền án: Ngày 01/11/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích), tiền sự: không; nhân thân: Xấu, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2020 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị S (tên gọi khác Vàng Thị D), sinh năm 1987, cư trú tại bản Co S, xã Đông S, huyện Mộc C, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 09/01/2020 Tráng A G đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại của một người đàn ông tên T ở xã Gia P, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La hỏi mua ma túy, và bảo G nếu có thì đem sang huyện Phù Yên cho T, G đồng ý và thống nhất với T 03 chỉ heroine và 02 viên hồng phiến với giá bán là 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Khoảng 09 giờ ngày 10/01/2020 T gọi điện lại cho G để thống nhất điểm giao ma túy tại bản K, xã Tường H, huyện Phù Yên. G lấy gói ma túy đút vào hậu môn rồi điều khiển xe mô tô đến bản K, xã Tường H, huyện Phù Yên để bán cho T thì bị tổ công tác của Công an huyện Phù Yên kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Tráng A G cất giấu trong người 01 gói chất bột màu trắng và 02 viên màu hồng, tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy J4 và 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 26H5-1337.

Ngày 11/01/2020 Cơ quan ảnh sát điều tra Công an phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong cân tịnh số ma túy thu giữ, cụ thể như sau: 01 gói chất bột màu trắng có khối lượng là 10,16 gam, lấy 0,48 gam, kí hiệu G; 02 viên màu hồng có khối lượng là 0,19 gam, lấy toàn bộ 0,19gam, kí hiệu G2 gửi giám định.

Kết luận giám định số 206 ngày 13/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: Mẫu gửi giám định kí hiệu G có khối lượng 0,48 gam là ma túy, loại heroine.

Mẫu gửi giám định kí hiệu G2 có khối lượng 0,19 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ 10,16 gam là heroine và 0,19 gam là Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 26/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, truy tố bị can Tráng A G về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm p, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Tráng A G khai nhận: Sau khi nhận được điện thoại của anh T (không biết họ và nơi cư trú cụ thể) chỉ nghe anh T nói ở xã Gia P, huyện Phù Yên bảo đem ma túy sang huyện Phù Yên bán cho T 03 chỉ heroine và 02 viên hồng phiến T sẽ trả cho 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Khoảng 09 giờ ngày 10/01/2020 bị cáo gói số ma túy đó rồi đút vào hậu môn, sau đó điều khiển xe máy đến bản khảo, xã Tường H, huyện Phù Yên gọi điện cho T nhưng T không nghe máy nên bị cáo ra bờ hồ sông đà gần đó lấy gói ma túy ra và giấu tại đầu cầu bản K thuộc xã Tường H rồi vào quán ăn sáng thì T gọi điện thoại bảo đến gần xưởng gỗ bản K để giao nhận ma túy, bị cáo ra bờ hồ lấy gói ma túy cho vào túi áo đi đến điểm hẹn thì bị tổ công tác của Công an huyện Phù Yên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ chất ma túy gồm: 01 gói chất bột màu trắng và 02 viên màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy J4 và 01 chiếc xe máy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tráng A G như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p,q khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng A G từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/01/2020 và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 9,68 gam heroine còn lại. Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy J4 do bị cáo dùng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội; Trả lại cho chị Vàng Thị S (D) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 26H5-1337; Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết số mẫu vật gửi giám định trong quá trình giám định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của UBND xã Đông S, huyện Mộc C, tỉnh Sơn La, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo tranh luận tại phiên tòa: Nhất trí với bản Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội về hành vi của bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định về ma túy, các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ, cả về thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng của vụ án thu được.

. Đối với người đàn ông tên T gọi điện thoại cho G để mua ma túy, cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã tiến hành điều tra, xác minh tại xã Gia P và các xã lân cận của huyện Phù Yên, nhưng không có ai tên T có hình dáng và đặc điểm như bị cáo khai báo, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu hay thông tin gì về người mua chất ma túy với bị cáo. Do đó, không xác định được người mua chất ma túy trong vụ án.

Đối với Thào Thị S là người nước Lào sang ăn cưới của người thân tại bản Co S, xã Đông S, huyện Mộc C đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã tiến hành điều tra, xác minh tại bản Co S, xã Đông S, huyện Mộc C, nhưng không có ai có tên là Thào Thị S như bị cáo cung cấp. Do đó, không xác định được người bán ma túy cho bị cáo.

Với những chứng cứ nêu trên, đủ cơ sở khách quan để kết luận: Bị cáo Tráng A G, phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo điểm p, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi trái pháp luật, nhưng do hám lời bị cáo bất chấp pháp luật, coi thường dư luận để mua nhiều loại chất ma túy để bán kiếm lới, trước đó bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 và điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, là tình tiết định khung hình phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương, cần được xử lý nghiêm và kịp thời.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng.

. Về nhân thân của bị cáo: Ngày 01/11/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 23/11/2017 được ra trại trở về địa phương sinh sống (chưa được xóa án tích) lại tiếp tục phạm tội mới về ma túy.

. Xét thất tình hình tội phạm về ma tuý tại địa phương vẫn diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ, mặc dù đã được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương tuyên truyền, vận động nói không với ma tuý, nhưng vẫn chưa có chuyển biến tích cực. Để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện.

. Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn bị phạt bổ sung (phạt tiền) theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, qua điều tra, xác minh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo năm 2020 của xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không có khả năng thi hành án phạt tiên. Do đó, không áp dụng đối với bị cáo.

. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Để đảm bảo công tác thi hành án phạt tù, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA màu đỏ đen, biển kiểm soát 26H5-1337 do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội là do vợ bị cáo là Vàng Thị S (D) mua năm 2009 khi bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại trại Hà Nam. Do đó, cần trả lại cho chị S (D) theo quy định của pháp luật.

Cần chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết 0,48 gam heroine và 0,19 gam Methamphetamine trong quá trình giám định;

Cần tịch thu tiêu hủy 9,68 gam heroine còn lại và 02 chiếc phong bì thư niêm phong vật chứng vụ án.

Cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động Sam sung Galaxy J4 là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo theo quyết định số 01/QĐ-HN.HCN ngày 14/01/2020 của UBND xã Đông S, huyện Mộc C, tỉnh Sơn La. Do đó, cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Vì các lẽ trên.

QuyÕt ĐỊNH:

1. Điều khoản áp dụng: Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

2. Tuyên bố bị cáo Tráng A G, phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Tráng A G 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/01/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (tiền) đối với bị cáo.

3. Vật chứng của vụ án: Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết 0,48 gam heroine và 0,19 gam Methamphetamine trong quá trình giám định;

Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J4, màu đen, số IMEL 1: 353793100453169/01, số IMEL 2: 353793100453167/01, bên trong có 02 sim

Tịch thu tiêu hủy 9,68 gam heroine còn lại và 02 chiếc phong bì thư niêm phong vật chứng vụ án.

Trả lại chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, màu đỏ, đen, biển kiểm soát 26H5-1337 cho chị Vàng Thị S (D).

4. Án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi gửi:

Cỡ chữ