- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Công - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội "Chứa mại dâm".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS - ST Ngày: 12/5/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng;
2. Bà Nguyễn Thị Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Phù Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 12/5/2020 tại Trụ sở TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2020/HSST ngày 29/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số26/2020/QĐXXST - HS ngày 29/4/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế C, Tên gọi khác: Không; SN 1996; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Khu Cát Lâm 2, xã PL, huyện ĐH, tỉnh PT; Chỗ ở hiện nay: Khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Th; Con bà: Hoàng Thị L; Vợ: Dương Thùy Ch; Con: Có 01 con (Sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT. Hôm nay, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lý Thị U, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn Lùng Mười, xã QT, huyện QB, tỉnh HG.
- Anh Đỗ Quang H, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu 4, xã AĐ, huyện PN, tỉnh PT.
Hôm nay, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2019, Nguyễn Thế C -sinh năm 1996, nơi ĐKHKTT tại khu Cát Lâm 2, xã PL, huyện ĐH, tỉnh PT; Nơi ở hiện nay: Khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT, đượcbố vợ là ông Phùng Bách Đ, sinh năm 1956, nơi ĐKHKTT tại tổ 3, khu Núi Voi, thị trấn PC, huyện PN (là chủ nhà nghỉ Chang Chang) ủy quyền quản lý nhà nghỉ Chang Chang thuộc khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT. Đến khoảng đầu tháng 01/2020, do muốn kiếm thêm tiền thu lời cá nhân nên C đãthỏa thuận với một số nhân viên nữ làm việctại quán karaoke Yên Bình, có vị trí nằm sát cạnh nhà nghỉ Chang Chang ở khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT (do mẹ vợ của C là bà Đặng Thị M, sinh năm 1972, ĐKHKTT tại khu Nam Tiến, thị trấn PC, huyện PN, tỉnh PT làm quản lý) về việc nếu có nhu cầu bán dâm thì sẽ dẫn khách sang nhà nghỉ Chang Chang để C sắp xếpcho thuê phòng, mỗi lượt thuê phòng C sẽ thu số tiền100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của người bán dâm.
Khoảng 20 giờ ngày 09/01/2020, chị Lý Thị U, sinh năm 1990, ĐKHKTT tại thôn Lùng Mười, xã QT, huyện QB, tỉnh HGg, làm việc tại quán karaoke Yên Bình gặp Đỗ Quang H, sinh năm 1994, nơi ĐKHKTT tại khu 4, xã AĐ, huyện PN, tỉnh PT là khách đến quán hát. Tại đây, H đặt vấn đề với U về việc có nhu cầu mua dâm thì U đồng ý, sau đó U dẫn H đi sang nhà nghỉ Chang Chang. Khi đi đến quầy lễ tân của nhà nghỉ thì U và H gặp C đang đứng ở quầy,do U và C đã có thỏa thuận từ trước về việc C đồng ý cho U dẫn khách mua dâm đến thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm,nên khi U hỏi thuê phòng thì C sắp xếp cho U và H vào phòng 103 của nhà nghỉ.Sau khi vào phòng, U và H thỏa thuận tiền mua dâm là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), H đưa U 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) trong đó bao gồm 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tiền mua dâm như đã thỏa thuận và cho thêm U 100.000đ(Một trăm nghìn đồng).Tiếp đó, H và U tự cởi quần áo của mình ra, đồng thời U đưa H 01 bao cao su để H đeo vào dương vật rồi cả hai quan hệ tình dục với nhau. Hồi 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi H và U đang quan hệ tình dục (mua bán dâm) thì Công an huyện Phù Ninh kiểm tra, phát hiện, lập biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng gồm: 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) là tiền mua dâm H trả cho U; 01 (một) vỏ bao cao su mầu hồng bên ngoài có chữ “PRETEX” và 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng. Tạm giữ của Lý Thị U: 01 (một) túi xách giả da màu đen, bên ngoài có chữ "CG" màu vàng, bên trong túi xách có 03 (ba) chiếc bao cao su màu hồng chưa sử dụng bên ngoài ghi chữ "PRETEX" made in Malaysia; tạm giữ của Nguyễn Thế C 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã tiến hành triệu tập Nguyễn Thế C và những người liên quan về trụ sở làm việc, để điều tra, xác minh làm rõ. Ngày 14/01/2020, Công an huyện Phù Ninh đã quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cùng ngày,Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thế C về tội “Chứa mại dâm” theo Điều 327 BLHS.
Quá trình điều tra bị can Nguyễn Thế C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Lời nhận tội của Công phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 29/CT - VKSPN ngày 28/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đã truy tố Nguyễn Thế C về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phát biểu quan điểm luận tội, đại diện VKSND huyện Phù Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội “Chứa mại dâm” và áp dụng khoản 1 điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS 2015 xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do có sự thỏa thuận trước nên khoảng 20 giờ ngày 09/01/2020, Nguyễn Thế C, sinh năm 1996, nơi ĐKHKTT tại khu Cát Lâm 2, xã PL, huyện ĐH, tỉnh PT; Nơi ở hiện nay: Khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT - là quản lý nhà nghỉ Chang Chang thuộc khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT đã có hành vi sắp xếp và bố trí phòng 103 của nhà nghỉ Chang Chang cho Lý Thị U, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Lùng Mười, xã QT, huyện QB, tỉnh HG và Đỗ Quang H, sinh năm 1990, địa chỉ tại khu 4, xã AĐ, huyện PN, tỉnh PT thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi U và H đang quan hệ tình dục (mua bán dâm) thì bị Công an huyện Phù Ninh kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi sắp xếp, bố trí phòng nghỉ thuộc quyền quản lý của mình cho cho người khác thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm của bị cáo Nguyễn Thế C đã bị VKS huyện Phù Ninh truy tố về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân lây lan nhiều căn bệnh xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng dăn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và của địa phương.
Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo và đã thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, HĐXX cho bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015. Ngoài ra, bị cáo có ông nội có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến được Bộ Tư lệnh Quân khu 2 cấp Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và được hưởng chế độ theo quy định của Nhà nước nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS 2015.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo vì hám lợi và muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng nên đã thỏa thuận, sắp xếp và bố trí phòng để U và H thực hiện hành vi mua bán dâm tại nhà nghỉ do mình quản lý mặc dù đủ khả năng để nhận thức được hành vi này là vi phạm pháp luật nên cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo thành công dân tốt và việc cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 327 thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ vào Biên bản xác minh tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra thì hiện nay bị cáo không có tài sản gì riêng nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này, tại thời điểm phát hiện bắt quả tang về hành vi mua bán dâm giữa Lý Thị U và Đỗ Quang H thì còn phát hiện tại các phòng số 101, 102, 201, 204, 205, 301 của nhà nghỉ Chang Chang có 06 đôi nam nữ trong phòng. Quá trình điều tra các đối tượng này khai nhận: Tối 09/01/2020 Chúc Thị Thư, Hoàng Mai Tuyết Lan, Tạ Thị Phương, Vũ Thúy Quỳnh, Nguyễn Thị Kiều và Nguyễn Thị Hoa đến quán Karaoke Yên Bình để làm việc thì gặp và thỏa thuận việc mua bán dâm với Dương Văn Hùng, Nguyễn Hoàng Nam, Cao Đức Mạnh, Hoàng Đức Anh, Đỗ Văn Hùng, Nguyễn Văn Dương. Sau đó, Thư dẫn Dương Văn Hùng đến phòng 101, Lan dẫn Nam đến phòng 102, Hoa dẫn Mạnh lên phòng 201, Quỳnh dẫn Đức Anh lên phòng 204, Kiều dẫn Đỗ Văn Hùng lên phòng 205 và Phương dẫn Dương lên phòng 301 của nhà nghỉ Chang Chang để mua bán dâm. Tuy nhiên, khi đến nhà nghỉ những người trên không gặp Nguyễn Thế Công ở quầy lễ tân nên đã tự ý đưa khách vào các phòng trên. Tại các phòng nghỉ này các đối tượng chưa thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì bị Công an huyện Phù Ninh kiểm tra phát hiện. Quá trình điều tra cả Công và Thư, Lan, Phương, Quỳnh, Kiều, Hoa đều khẳng định khi những người trên lên các phòng nghỉ để mua bán dâm với nhau thì Công xuống bếp ăn cơm, Công không biết họ vào các phòng nghỉ trên để mua bán dâm. Do đó, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C về tình tiết “Chứa mại dâm 04 người trở lên” theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 327 BLHS 2015 xét thấy là phù hợp.
Đối với lời khai của Lý Thị U, Chúc Thị Thư, Hoàng Mai Tuyết Lan, Tạ Thị Phương, Vũ Thúy Quỳnh, Nguyễn Thị Kiều và Nguyễn Thị Hoa về việc trước ngày 09/01/2020 có một số lần đến thuê phòng tại nhà nghỉ Chang Chang để bán dâm: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Công và những người này thì đều thể hiện: Cả Út, Thư, Lan, Phương, Quỳnh, Kiều và Hoa đều không nhớ ngày, tháng, năm bán dâm và bán dâm cho ai, ở phòng nào và không chứng minh được có phải C là người bố trí cho thuê phòng không. Bản thân Nguyễn Thế C có thừa nhận trước ngày 09/01/2020 có việc những người này thuê phòng nghỉ nhưng bị cáo chỉ nhớ U, còn những người khác bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Mặt khác do nhà nghỉ đông người ra vào, bị cáo cũng không xác định được u và những người khác có thuê phòng để bán dâm hay không và có phải do bị cáo bố trí, sắp xếp phòng cho thuê hay không. Ngoài những lời khai trên không có căn cứ nào khác chứng minh trước ngày 09/01/2020 C cho U và một số nhân viên nữ của quán Karaoke Yên Bình thuê phòng nghỉ để mua bán dâm. Vì vậy không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C về tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 điều 327 BLHS 2025 xét thấy là phù hợp`.
Đối với Lý Thị U và Đỗ Quang H có hành vi mua bán dâm, Công an huyên Phù Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với U về hành vi bán dâm và đối với H về hành vi mua dâm xét thấy là phù hợp.
Đối với Chúc Thị Thư, Hoàng Mai Tuyết Lan, Tạ Thị Phương, Vũ Thúy Quỳnh, Nguyễn Thị Kiều, Nguyễn Thị Hoa, Dương Văn Hùng, Nguyễn Hoàng Nam, Cao Đức Mạnh, Hoàng Đức Anh, Đỗ Văn Hùng và Nguyễn Văn Dương: Quá trình điều tra xác định các đối tượng thuê phòng tại nhà nghỉ Chang Chang mục đích để mua bán dâm tuy nhiên chưa thực hiện được hành vi mua bán dâm thì bị Công an huyện Phù Ninh phát hiện do vậy không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với ông Phùng Bách Đ là chủ nhà nghỉ Chang Chang: Quá trình điều tra ông Đ khai nhận không biết việc C thỏa thuận cho khác đến nhà nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm và không được hưởng lợi ích từ việc mua bán dâm. Do vậy, không đề cập xử lý đối với ông Đ xét thấ là phù hợp.
Đối với bà Đặng Thi M là người quản lý quán Karaoke Yên Bình, quá trình điều tra bà M khai nhận không biết việc các nhân viên của quán thỏa thuận với khách đến hát để bán dâm do vậy không đề cập xử lý đối với bà M xét thấy là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 1.200.000 đồng do bị cáo Nguyễn Thế C tự nguyện giao nộp: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận đây là số tiền mà bị cáo thu tiền phòng của những nhân viên thuê phòng nhà nghỉ để mua bán dâm ngày 09/01/2020. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra không có căn cứ chứng minh trước thời điểm bắt quả tang đối với U và H thì C đã có hành vi cho các nhân viên của quán Karaoke thuê phòng nghỉ để bán dâm. Do đó, không có căn cứ xác định số tiền này là do phạm tội mà có nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tạm giữ của Lý Thị U: Quá trình điều tra cả H và U đều thừa nhận đây là số tiền mà H vừa trả cho U để mua dâm. Do đó cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 túi xách giả da màu đen, bên ngoài có chữ “CG” màu vàng là đồ vật của Lý Thị Unên cần trả lại cho chị U.
- Đối với 01 vỏ cao su màu hồng chưa sử dụng bên ngoài ghi chữ “PRETEX” made in Malaysia; 01 bao cao su đã qua sử dụng: Là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 03 chiếc bao cao su màu hồng trong túi xách của Lý Thị U: Quá trình điều tra U khai nhận ba chiếc bao cao su này U sẽ sử dụng khi thực hiện hành vi bán dâm nên cũng cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị HĐXX kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật vì vậy được chấp nhận.
Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội "Chứa mại dâm".
Xử phạt: Nguyễn Thế C: 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách: 32 (Ba mươi hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Thế C cho UBND xã PN, huyện PN, tỉnh PT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú từ 01 (một) ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, 3 điều 106; khoản 2 điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
* Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho chị Lý Thị U 01 túi xách giả da màu đen có chữ “CG” màu vàng;
- Trả lại cho Nguyễn Thế C số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng);
- Tich thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su màu hồng chưa sử dụng bên ngoài ghi chữ “PRETEX” made in Malaysia; 01 bao cao su đã qua sử dụng và 03 chiếc bao cao su màu hồng chưa sử dụng bên ngoài ghi chữ “PRETEX” made in Malaysia để trong túi xách của Lý Thị U.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/4/2020).
* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh, huyện; - Sở Tư pháp; - THA DS huyện Phù Ninh; - UBND xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh; - UBND xã Phú Lâm, huyện Đoan Hùng; - Bị cáo Người có QL&NVLQ; - Lưu: HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Hồng Ngân |