vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đ K M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đ K M 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đ K M cho UBND xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đ K M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày: 08/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Thanh Toàn

Ông: Trương Ngọc Nhân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Đ K M (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 09 tháng 9 năm 1969 tại: Xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B. Nơi cư trú: Thôn L Kh, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B; nghề nghiệp: Sản xuất nông nghiệp; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ H Đ ( đã chết ) và bà Ng Th L, sinh năm 1940; có vợ là Đ Th Đ, sinh năm 1969 và 03 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 15/3/2020 cho đến nay, có mặt.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại Đ A T ( đã chết):

Chị Đ Th L – sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

* Người làm chứng:

Ông Tr V M – sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Bà C Th H – sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Ông C X S – sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Anh C Ch Qu – sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn H, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Anh Đ V T - sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn L Kh, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Anh Ph V H – sinh năm 1979

Địa chỉ: Tổ dân phố Ch Tr, phường Qu L, thị xã B Đ, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Anh Đ V V – sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn L Kh, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

Ông Đ X H – sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2020, Đ K M, sinh năm 1969, trú tại thôn L Kh, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K4-54.., nhãn hiệu HON DA lưu thông trên đường H Ch M theo hướng từ xã Th H đến xã H H. Khi đến Km 903+790 đường H Ch M thuộc địa phận thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B. Đ K M điều khiển xe mô tô đi sang phần đường của xe ngược chiều và vượt lên xe mô tô biển kiểm soát 73N7-09.. do anh Đ A T, sinh năm 1979, trú tại thôn Qu, xã Th H, huyện M H, tỉnh Qu B điều khiển đi cùng chiều chở theo sau là cháu Đ Th M L, sinh năm 2016 là con gái của anh T. Lúc này anh Đ A T điều khiển xe mô tô rẽ trái nên xe mô tô của Đ K M điều khiển đã va chạm vào xe mô tô của anh Đ A T làm xe mô tô của anh T cùng anh T và cháu L bị ngã xuống đường. Đ K M cũng bị ngã xuống đường.

Hậu quả: Anh Đ A T bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện M H, sau đó chuyển vào Bệnh viện hữu nghị V N – C B Đ H đến ngày 23/01/2020 thì chết, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Đ K M bị thương xây xát da, chảy máu nên được Đ V T, sinh năm 1979, và Đ V C, sinh năm 2001 đều ở cùng thôn với Đ K M đi cùng M sau đó Đ V T lấy xe mô tô biển kiểm soát 73K4-5420 của M chở M đi cấp cứu nhưng do vết thương nhẹ nên Đ K M về nhà tự rửa vết thương. Cháu L bị xây xát nhẹ.

Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, đã xác định được nguyên nhân gây ra tai nạn là do Đ K M điều khiển xe tham gia giao thông trên đoạn đường cong cua nhưng đã vượt lên xe phía trước đi cùng chiều khi chưa đảm bảo an toàn nên đã gây tai nạn cho xe mô tô biển kiểm soát 73N7-0900 do anh Đ A T điều khiển.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 24/TT ngày 21/02/2020 của trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: nguyên nhân chết do chấn thương sọ não.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KLĐG-HĐĐG ngày 13/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Minh Hóa kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 73N7-09.., nhãn hiệu WAVE; số khung 105570; số máy 0105440 bị hư hỏng do tai nạn giao thông do xe mô tô biển kiểm soát 73K4-54.. gây ra ngày 15/01/2020 là: 690.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Đ K M đã đến thăm hỏi bồi thường cho gia định bị hại số tiền 80.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho Đ K M.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa tạm giữ:

- 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 73K4-54.., nhãn hiệu HON DA, số máy 0105440, số khung 105570;

- 01 (Một) giấy đăng ký xe máy số 0012960, của xe mô tô kiểm soát 73K4-54..;

- 01 (Một) giấy phép lái xe số 078425 mang tên Đ K M;

- 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 73N7-09.., nhãn hiệu DDETEECH, màu sơn nâu, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã được Cơ quan điều tra làm rõ

Cáo trạng số 20/CT-VKSNDMH ngày 10/6/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Đ K M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ K M từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho Đ K M nên không đề nghị xem xét.

Và đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Đ K M 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 73K4-54.. và giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe máy của xe mô tô Biển kiểm soát 73K4-54...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội: Đ K M có giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông đã điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 73K4 – 54.. đi sang phần đường ngược chiều và vượt xe mô tô Biển kiểm soát 73N7 – 09.. gây tai nạn làm anh T bị thương được đưa đi cấp cứu nhưng sau đó đã chết.

Hành vi của Đ K M đã vi phạm khoản 2 và điểm c khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người làm chứng, đại diện hợp pháp của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm hiện trường mà bị cáo gây tai nạn, ý kiến Kiểm sát viên. Do đó đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đ K M phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của Đ K M thực hiện với lỗi vô ý do cẩu thả khi tham gia giao thông, chấp hành luật giao thông kém mà gây ra tai nạn, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, sau khi tai nạn xảy ra đã có trách nhiệm thăm hỏi, động viên gia đình bị hại và bồi thường chi phí mai táng, viện phí số tiền 80.000.000 đồng, được người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và việc cách ly bị cáo là chưa cần thiết mà giao cho bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.

Vật chứng vụ án: Sau khi xác định chủ sở hữu, ngày 25/5/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã trả lại cho chị Đ Th L là vợ của người bị hại đã chết 01 ( một ) chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 73N7 – 09.. đảm bảo đúng quy định.

Cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho Đ K M 01 ( một ) chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 73K4 – 54.., nhãn hiệu HONDA, số máy 0105440, số khung 105570; 01 ( một ) giấy phép lái xe số 078425 mang tên Đ K M, 01 ( một) giấy đăng ký xe máy số 0012960 của xe mô tô Biển kiểm soát 73K4 – 54...

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn Đ K M đã động viên và thăm hỏi hỗ trợ, bồi thường chi phí viện phí và mai táng cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Về án phí: Bị cáo Đ K M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đ K M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Đ K M 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đ K M cho UBND xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho Đ K M 01 ( một ) chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 73K4 – 54.., nhãn hiệu HONDA, số máy 0105440, số khung 105570; 01 ( một ) giấy phép lái xe số 078425 mang tên Đ K M, 01 ( một) giấy đăng ký xe máy số 0012960 của xe mô tô Biển kiểm soát 73K4 – 54...

Số vật chứng trên đã được chuyển giao tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/6/2020.

3. Về án phí: Bị cáo Đ K M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại.

Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/7/2020). Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã nơi cư trú. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Bình;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an huyện Minh Hoá;

- VKSND huyện Minh Hoá;

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

( đã ký )

- Chi cục THADS huyện Minh Hoá;

- Bị cáo;

Nguyễn Minh Toàn

- Người ĐDHP của bị hại;

- Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- Lưu hồ sơ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Bình;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an huyện Minh Hoá;

- VKSND huyện Minh Hoá;

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

- Chi cục THADS huyện Minh Hoá;

- Bị cáo;

Nguyễn Minh Toàn

- Người ĐDHP của bị hại;

- Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ