vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 06/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vàng A T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm. Giao bị cáo Vàng A T cho UBND xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vàng A T có trách nhiệm phối hợp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A T về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý l…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày: 10- 6-2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Dần

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Lan

Ông Hà Công Hợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Vàng A T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1984 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Vàng A P, sinh năm 1964 và bà Khà Y P, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Giàng Y T, sinh năm 1983; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2002 và con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt lần nào. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2020, chuyển tạm giam từ ngày 27/02/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò. Đại diện là Ông Sùng A V, chức vụ: Phó trưởng ban phụ trách Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò. Có mặt.

Những ngƣời làm chứng:

- Anh Vàng A C, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Anh Bùi Văn C, sinh năm 1987; nơi cư trú: Xóm L, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng cuối tháng 01/2020 Vàng A T đi bộ từ nhà mình tại Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình cầm theo 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 570 màu da cam đến khu vực rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò thuộc xóm Chà Đáy, xã Pà Cò giáp danh với Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình nơi có nhiều cây gỗ Thông Pà Cò mọc tự nhiên trên đỉnh núi đá để chặt gỗ Thông Pà Cò về với mục đích tu sửa nhà. Khi đến nơi Vàng A T sử dụng cưa máy cưa đổ 01 cây Thông Pà Cò rồi sau đó đi về nhà, ba ngày sau vào buổi chiều Vàng A T quay lại tiếp tục dùng máy cưa xăng chặt đổ 02 cây Thông Pà Cò gần cây Thông Pà Cò đã cưa đổ trước đó. Sau khi đã cưa đổ 02 cây Thông Pà Cò, Vàng A T tiếp tục dùng cưa máy cắt phần ngọn và cành của cây rồi cưa thân cây ra thành các đoạn ngắn rồi lăn xuống chân núi, còn hai đoạn dài mỗi đoạn dài khoảng 3m do hết xăng nên không cưa được và không lăn xuống dưới được nên Vàng A T để lại rồi đi về. Khoảng 15 giờ ngày 24/02/2020 Vàng A T đổ đầy nguyên liệu vào máy cưa rồi cho máy cưa vào 01 chiếc gùi đựng đồ đi bộ đến xẻ các đoạn cây Thông Pà Cò thành các tấm gỗ hộp để vận chuyển về nhà. Khi đi qua nhà Vàng A C, Vàng A T rủ Vàng A C đi với mình thì Vàng A C đồng ý, sau đó Vàng A T dẫn Vàng A C leo lên đỉnh núi đá nơi còn hai đoạn gỗ thông Pà Cò, Vàng A T lấy cưa máy ra xẻ hai đoạn gỗ thành 03 tấm gỗ hộp, trong quá trình xẻ gỗ để tránh cưa máy cưa vào đá nên Vàng A T có nhờ Vàng A C cùng mình bê hai đoạn gỗ sang bên cạnh tránh cưa vào đá. Toàn bộ quá trình Vàng A T không nói cho Vàng A C biết đó là gỗ Thông Pà Cò, cũng không thỏa thuận gì với Vàng A C về việc trả công mà chỉ nhờ Cải làm việc giúp mình. Sau khi cưa xong Trớ để gỗ trên đỉnh núi rồi cùng Vàng A C đi xuống chân núi để tiếp tục xẻ các đoạn gỗ đã lăn xuống trước đó thì gặp anh Bùi Văn C là cán bộ Kiểm lâm của Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò đi kiểm tra rừng. Sau khi được giải thích, vận động thì Vàng A T không tiếp tục xẻ gỗ nữa và đến đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đầu thú và giao nộp tang vật liên quan.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường và đo xác định khối lượng 03 cây gỗ thông Pà Cò bị chặt hạ có tổng khối lượng là 1,129m³ (Một phảy một trăm hai mươi chín mét khối).

Tại bản Kết luận giám định số 50/CNR-VP ngày 27/02/2020 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng kết luận: Mẫu gỗ giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình cung cấp là Thông Pà Cò, tên khoa học là Pinus kwangtungensis, được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ.

Quyết định số 2790 ngày 25/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-Pà Cò giai đoạn 2016 - 2020 tầm nhìn 2030 và Quyết định số 3042 ngày 27/12/2018 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 03 loại rừng xác định: Lô 35, khoảnh 6a, tiểu khu 129, thuộc xóm Chà Đáy, xã Pà Cò, huyện Mai Châu và lô 2, khoảnh 13, tiểu khu 130, thuộc Xóm H, xã H, huyện M là rừng đặc dụng, loại rừng tự nhiên.

Vật chứng, đồ vật cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 13 (Mười ba) khúc gỗ và 03 (Ba) tấm gỗ loại cây gỗ Thông Pà Cò nhiều kích thước khác nhau, cụ thể: 01 (Một) khúc có kích thước 0,67x2,77m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,7x2,72m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,66x4,07m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,77x5,5m; 01 (Một) khúc có kích thước 1,14x1,23m; 01 (Một) khúc có kích thước 1,11x1,10m; 01 (Một) khúc có kích thước 1,08x1,22m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,84x1,14m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,93x0,7m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,93x0,93m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,93x0,59m; 01 (Một) khúc có kích thước 1,20x0,50m; 01 (Một) khúc có kích thước 0,90x1,17m; 01 (Một) tấm có kích thước 0,35x0,15x2,42m; 01 (Một) tấm có kích thước 0,35x0,15x2,52m; 01 (Một) tấm có kích thước 0,15x0,15x1m.

- Thu giữ của Vàng A T: 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 570 màu da cam có lưỡi cưa, có dây xích, cũ đã qua sử dụng, 01 chiếc gùi đựng đồ loại có dây đeo, cũ đã qua sử dụng đeo.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT – VKS -HS ngày 13/5/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đã truy tố Vàng A T về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A T 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại Khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Giao cho Ban quản lý khu bảo tồn Hang Kia, Pà Cò xử lý theo quy định tòa bộ số gỗ đang lưu giữ tại Ban quản lý khu bảo tồn Hang Kia, Pà Cò.

- Tịch thu để phát mại sung quỹ nhà nước: 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 570 màu da cam có lưỡi cưa, có dây xích, cũ đã qua sử dụng.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 chiếc gùi đựng đồ loại có dây đeo, cũ đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Vàng A T phải bồi thường cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò tổng số tiền 9.300.000 đồng.

Về vấn đề khác:

- Đối với Vàng A C là người đã cùng bị can vào rừng xẻ gỗ ngày 24/02/2020, các chứng cứ thu thập được hồ sơ vụ án không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cải trong vụ án này. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

Tại phiên tòa bị cáo và đại diện nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đại diện nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường 9.300.000 đồng là tiền công và tiền thuê phương tiện vận chuyển số gỗ về trụ sở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 9.300.000 đồng cho Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò. Lời sau cùng bị cáo đã thật sự ân hận, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Vàng A T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng cuối tháng 01/2020, tại lô 35, khoảnh 6a, tiểu khu 129, thuộc xóm Chà Đáy, xã Pà Cò và lô 2, khoảnh 13, tiểu khu 130, thuộc Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Vàng A T đã có hành vi sử dụng 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 570 màu da cam chặt 03 cây gỗ loại gỗ Thông Pà Cò có tổng khối lượng là 1,129m³ (Một phảy một trăm hai mươi chín mét khối) tên khoa học là Pinus kwangtungensis, được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ. Với mục đích tu sửa nhà. Sau khi cưa xong Trớ để gỗ trên đỉnh núi rồi đi xuống chân núi để tiếp tục xẻ các đoạn gỗ đã lăn xuống trước đó thì gặp anh Bùi Văn C là cán bộ Kiểm lâm của Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò đi kiểm tra rừng. Sau khi được giải thích, vận động thì Vàng A T không tiếp tục xẻ gỗ và đến đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đầu thú và giao nộp tang vật liên quan. Vì vậy hành vi của Vàng A T đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt bồ sung: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo ở mức tối thiểu duy trì cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, gia đình không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Xét về hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe và nhận thức được việc không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép mà tự ý chặt hạ 03 cây Thông Pà Cò với tổng khối lượng 1,129m³ tại khu rừng đặc dụng là xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Tội phạm của bị cáo đã hoàn thành, hậu quả xảy ra đã xâm hại tài nguyên rừng, xâm hại đến hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sự bền vững, ổn định của môi trường, ảnh hưởng đến tình hình trị an ở địa phương. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi xem xét hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tuổi còn trẻ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo, cần thiết giúp đỡ bị cáo để sửa chữa lỗi lầm, vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò yêu cầu bị cáo bồi thường 9.300.000 đồng là tiền công và tiền thuê phương tiện vận chuyển số gỗ về trụ sở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò. Hội đồng xét xử xét đây là chi phí hợp lý phát sinh từ hành vi trái phép luật của bị cáo gây nên. Do đó bị cáo phải bồi thường số tiền trên cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét:

- Giao 13 (Mười ba) khúc gỗ và 03 (Ba) tấm gỗ loại cây gỗ Thông Pà Cò nhiều kích thước khác nhau (hiện đang được lưu giữ tại kho của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò) cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 570 màu da cam có lưỡi cưa, có dây xích, cũ đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện để Vàng A T thực hiện hành vi khai thác gỗ trái phép. Vì vậy cần được tịch thu để phát mại sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 chiếc gùi đựng đồ loại có dây đeo, cũ đã qua sử dụng là phương tiện để bị cáo gùi máy cưa xăng, xét không còn giá trị sử dụng vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vấn đề khác:

- Đối với Vàng A C là người đã cùng bị can vào rừng xẻ gỗ ngày 24/02/2020, các chứng cứ thu thập được hồ sơ vụ án không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cải trong vụ án này. Vì vậy không xét đến.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo Vàng A T.

Về án phí: Bị cáo Vàng A T phải nộp án phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo và người đại diện của nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

- Xử phạt bị cáo Vàng A T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.

- Giao bị cáo Vàng A T cho UBND xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vàng A T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Vàng A T. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên:

- Giao 13 (Mười ba) khúc gỗ và 03 (Ba) tấm gỗ loại cây gỗ Thông Pà Cò nhiều kích thước khác nhau (hiện đang được lưu giữ tại kho của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò) cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò xử lý theo quy định.

- Tịch thu để phát mại sung quỹ nhà nước 01 máy cưa cầm tay, nhãn hiệu Husqvarna 570, màu da cam, có lưỡi cưa, có dây xích cũ đã qua sử dụng.

- Tịch thu để tiêu hủy 01 chiếc gùi đựng đồ loại có dây đeo, cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 37/THA ngày 19/5/2020).

3. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 ; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Vàng A T phải bồi thường cho Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò tổng số tiền 9.300.000 (chín triệu ba trăm ngàn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, mà bên phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án, nếu có thỏa thuận về lãi chậm trả thì tính theo thỏa thuận đó nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1, nếu không có thỏa thuận thì tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên bị cáo Vàng A T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 465.000 đồng án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Vàng A T và người đại diện của nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ