vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 09/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Th phạm Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm.

Xử phạt: Nguyễn Thị Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Th về Ủy ban nhân dân xã Đình X, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo Nguyễn Thị Th thay đổi nơi cư tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (điều 193 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Th phạm Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày 09 - 3 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Lê Minh Thơm

Ông: Nguyễn Quang Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa:

Bà: Vũ Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/TLST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Th (tên gọi khác: không), sinh năm 1994 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn 5, xã Đình X, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1973; Chồng: Lê Hồng Kh; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh ngày 23/10/2017; Tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Ajinomoto Việt Nam.

Trụ sở: Khu công nghiệp Biên Hòa I, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện theo pháp luật: K.K- chức vụ: Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc, HKTT: 3334-5 Sanmi, Hagi-shi, Yamaguchi Prefecture, Nhật Bản; Chỗ ở hiện tại: Sofitel Saigon Plaza, số 17 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Cao Th, sinh năm 1986, chức vụ: Giám sát (Giấy ủy quyền số 583/UQ-Aji-2018 ngày 11/6/2018 của Công ty Ajinomoto Việt Nam).

(Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Lê Hồng Kh, sinh năm 1989

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn 5, xã Đình X, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thấy trong dịp Tết nguyên đán nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto cao, Th nảy sinh ý định sản xuất bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto để bán kiếm lợi. Để có nguyên liệu sản xuất bột ngọt, ngày 14/12/2019, Th đi đến khu vực chợ Giời, Hà Nội tìm mua của những người không quen biết bột ngọt nguyên liệu giá 770.000 đồng/bao 25kg, vỏ gói bột ngọt Ajinomoto loại 100g với giá 40.000 đồng/100 gói; vỏ gói bột ngọt Ajinomoto loại 400g và 454g Th mua với giá 80.000đ/100 gói; vỏ gói bột ngọt Ajinomoto loại 1kg với giá 120.000 đồng/100 gói. Ngoài ra Th chuẩn bị cân và máy hàn nhiệt do Th mua trước đó đã lâu không nhớ mua của ai, ở đâu để phục vụ quá trình sản xuất và bán bột ngọt giả. Sáng ngày 16/12/2019, anh Lâm Viết Đ là người cùng xã Đình X có đặt mua của Th 200 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100g với giá 4.000 đồng/gói; 50 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400g với giá 17.000 đồng/gói và 25 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg với giá 40.000 đồng/gói. Tổng số tiền hàng Đ đã trả cho Th là 2.650.000 đồng và hẹn với Th đến trưa cùng ngày sẽ giao trước cho xe tải ở khu vực cổng UBND xã Đình X 25 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg, số hàng còn lại Đ sẽ đến để lấy sau. Cùng ngày, Th đã tự mình sản xuất đóng gói tại nhà bằng cách: bột ngọt nguyên liệu được Th đổ ra đưa lên cân để cân khối lượng rồi đổ bột ngọt nguyên liệu vào các vỏ bao bì in nhãn hiệu Ajinomoto và sử dụng máy hàn nhiệt để hàn miệng các gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm. Sau khi sản xuất đóng gói xong, Th để số bột ngọt do Đ đặt mua ở trong các túi bóng đen (gồm 25 gói bột ngọt in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg) và 200 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100g, 50 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400g để ở ngoài sân. Ngoài ra Th sản xuất thêm 03 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto loại 100 g và 01 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto loại 400g, Th cất giấu 04 gói bột ngọt trên ở bên trong tủ quần áo. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày Th điều khiển xe máy chở 02 túi bóng đen bên trong có 25 gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg từ nhà ở thôn 5, Đình Xuyên, Gia Lâm, Hà Nội để giao hàng cho xe tải theo yêu cầu Đ, khi qua khu vực cổng UBND xã Đình X thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng gồm: 01 túi bóng màu đen bên trong có 12 gói bột ngọt in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg để ở giá phía trước xe; 01 túi bóng màu đen bên trong có 13 gói bột ngọt in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg để ở yên sau của xe; 01 xe máy hiệu FLYAMAHA, BKS 29AA-559.85; số tiền 2.650.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Gia Lâm tiến hành Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Th và đã tạm giữ: 203 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100 g; 51 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400 g; 107 kg bột ngọt nguyên liệu; 01 máy hàn nhiệt nhãn hiệu Tân Thanh; 01 cân loại 2 kg nhãn hiệu Nhơn Hòa; 950 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 454 g;1800 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 400 g; 550 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 100 g; 650 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg

Tại bản Kết luận giám định số 9466/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- 25 gói mỳ chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg (ký hiệu mẫu A1) đều là giả, đều có chất lượng, vỏ gói, nhãn mác không cùng loại với chất lượng, vỏ gói, nhãn mác của gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg do Công ty Ajinomoto Việt Nam sản xuất.

- 51 gói mỳ chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phầm loại 400g (ký hiệu mẫu A2) đều là giả, đều có chất lượng, vỏ gói, nhãn mác không cùng loại với chất lượng, vỏ gói, nhãn mác. của gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400g do công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp

- 203 gói mỳ chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phầm 100g (ký hiệu mẫu A3) đều là giả, đều có chất lượng, vỏ gói, nhãn mác không cùng loại với chất lượng, vỏ gói, nhãn mác của gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100g do công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp.

- 950 vỏ gói in nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g (ký hiệu mẫu A4) đều là giả, đều không cùng loại với vỏ gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g do Công ty Ajinomoto Việt Nam sản xuất.

- 1.800 vỏ gói in nhãn hiệu Ajinomoto loại 400g (ký hiệu mẫu A5) đều là giả, đều không cùng loại với vỏ gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 400g do Công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp.

- 550 vỏ gói in nhãn hiệu Ajinomoto loại 100g (ký hiệu mẫu A6) đều là giả, đều không cùng loại với vỏ gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 100g do Công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp.

- 650 vỏ gói in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1kg (ký hiệu mẫu A7) đều là giả, đều không cùng loại với vỏ gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 1kg do Công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp.

- Trong 25 gói mì chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg (ký hiệu mẫu A1); Trong 51 gói mì chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400g (ký hiệu mẫu A2); Trong 203 gói mì chính in nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100g (ký hiệu mẫu A3) đều không tìm thấy các chất độc thường gặp

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSGL, ngày 16/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Nguyễn Thị Th về tội “Sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thị Th đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Ajinomoto Việt Nam, người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Cao Th vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra Công ty Ajinomoto Việt Nam không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Th trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 193; Điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ Luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Th phạm “Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm”. Đề nghị xử phạt bị cáo Th từ 24 tháng đến 28 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 48 tháng đến 56 tháng. Giao bị cáo về UBND xã Đình X, Gia Lâm, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 203 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100 g; 51 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400 g; 107 kg bột ngọt nguyên liệu; 950 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 454 g; 1800 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 400 g; 550 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 100 g; 650 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg. 12 gói bột ngọt in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg; 01 túi bóng màu đen bên trong có 13 gói bột ngọt in nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 1 máy hàn nhiệt nhãn hiệu Tân Thanh; 1 cân loại 2 kg nhãn hiệu Nhơn Hòa và số tiền 2.650.000 đồng do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Trả lại bị cáo: 01 xe máy hiệu FLYAMAHA, BKS 29AA-559.85 do đây là tài sản chung của bị cáo và chồng là anh Lê Hồng Kh

Về dân sự: không.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng, cho ị cáo được cải tạo ngoài xã hội vì bị cáo còn đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 16/12/2019, tại thôn 5, Đình Xuyên Gia Lâm, Hà Nội Nguyễn Thị Th có hành vi làm bột ngọt (mì chính là phụ gia thực phẩm) một cách trái phép giống nhãn hiệu Ajinomoto, là sản phẩm hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất và tiêu thụ trên thị trường (hàng thật), gây nhầm lẫn gồm: 25 gói bột ngọt thành phẩm loại 1kg trị giá 1.575.000 đồng; 203 gói bột ngọt thành phẩm loại 100g trị giá: 1.522.500 đồng; 51 gói bột ngọt nhãn thành phẩm loại 400 g trị giá: 1.453.500 đồng với tổng số tiền là 4.551.000 đồng với mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an phát hiện thu giữ cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 19/CT-VKSGL, ngày 16/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Th về Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm theo khoản 1 Điều 193 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến chính sách quản lý thị trường của Nhà nước, đồng thời xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng được pháp luật bảo vệ.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 – BLHS. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, đây là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51-BKLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nơi cư trú rõ ràng. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định lại nhất thời phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Công ty Ajinomoto Việt Nam không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét.

.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 23 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg, đã lấy 02 gói phục vụ giám định; 198 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100 g, đã lấy 05 gói phục vụ giám định; 48 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400 g, đã lấy 03 gói phục vụ giám định; 107 kg bột ngọt nguyên liệu; 940 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 454 g, đã lấy 10 chiếc phục vụ giám định; 1790 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 400 g, đã lấy 10 chiếc phục vụ giám định; 540 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 100 g, đã lấy 10 chiếc phục vụ giám định; 640 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg, đã lấy 10 chiếc phục vụ giám định;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 1 máy hàn nhiệt nhãn hiệu Tân Thanh; 01 cân loại 2 kg nhãn hiệu Nhơn Hòa và số tiền 2.650.000 đồng.

Đối với 1 xe máy hiệu FLYAMAHA, BKS 29AA-559.85 là xe đăng ký mang tên Nguyễn Thị Th. Th khai nhận mua xe máy trên vào năm 2018 với giá 8.000.000 đồng là tiền của vợ chồng Th do lao động mà có. Tại phiên tòa, chồng bị cáo Th là anh Lê Hồng Kh cũng thừa nhận chiếc xe máy này là tài sản chung vợ chồng, anh Khánh không biết Th sử dụng xe máy để chở mì chính giả đi bán nên HĐXX thấy cần trả lại xe máy cho bị cáo.

. Đối với Lâm Viết Đ: Đ khai không giao dịch mua bán, không liên quan đến hành vi sản xuất bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto của bị cáo Th. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Gia Lâm cho Đ và Th đối chất, nhưng Đ vẫn không thừa nhận. Ngoài lời khai của Th, không có tài liệu nào khác chứng minh Lâm Viết Đ đồng phạm với Nguyễn Thị Th nên cơ quan Công an không xử lý đối với Đ là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Thị Th có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 193; điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các Điều: 326, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Th phạm Tội sản xuất hàng giả là phụ gia thực phẩm.

Xử phạt: Nguyễn Thị Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Th về Ủy ban nhân dân xã Đình X, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo Nguyễn Thị Th thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị Th cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 23 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 1kg; 198 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 100 g; 48 gói bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto thành phẩm loại 400 g; 107 kg bột ngọt nguyên liệu; 940 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 454 g; 1790 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 400 g; 540 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 100 g; 640 chiếc vỏ nhãn hiệu Ajinomoto loại 1 kg;

Trả lại bị cáo: 01 xe máy hiệu FLYAMAHA, biển số 29AA-559.85 màu sơn: Xanh, số máy: VZS139FMB823404; số khung: RR6DCB7UMFT823404, chủ xe Nguyễn Thị Th.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 1 máy hàn nhiệt nhãn hiệu Tân Thanh đã qua sử dụng; 1 cân loại 2 kg nhãn hiệu Nhơn Hòa đã qua sử dụng và số tiền 2.650.000 đồng.

Toàn bộ số vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 25/02/2020 và Biên lai thu tiền số AA/2010/0001760, ngày 25/02/2020

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo Nguyễn Thị Th có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Hồng Kh có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty Ajinomoto Việt Nam vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ