vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P : 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ (ngày 23/6/2020). Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Pháp - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày 23 tháng 11 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hoàng Liêu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thanh Thắm.

Ông Phạm Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy, thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Xây, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/QĐXXST-HS ngày 04/11/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc P (tên gọi khác Cu em), sinh năm 1993 tại huyện Chư Sê, tỉnh G.

Nơi cư trú: Thôn 2, xã IaBlang, huyện Chư Sê, tỉnh G.

Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc Mỹ sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1994 và 02 người con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án: 01, tại bản án số 68/2012/HSST ngày 06/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/6/2013, chưa chấp hành trách nhiệm dân sự…

Tiền sự: không. Nhân thân: ngày 04/11/2011 bị Công an xã IaBlang, huyện Chư Sê xử phạt hành chính về hành vi “gây rối trật tự công cộng”.

Bị bắt quả tang tạm giữ ngày 23/6/2020, tạm giam ngày 02/7/2020. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Hồng P, sinh năm 1992,

Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh G. Vắng mặt

+ Người làm chứng:

Anh Lâm Lê Huy, sinh năm 1986,

Địa chỉ: thôn Tao Ôr, xã IaRong, huyện C, tỉnh G. Vắng mặt

Anh Lâm Huy Kiệt, sinh năm 1986,

Địa chỉ: thôn Tao Ôr, xã IaRong, huyện C, tỉnh G. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ ngày 23/6/2020 tại thôn Tao Ôr, xã Ia Rong, huyện C, tỉnh G, Cơ quan CSĐT Công an huyện C phối hợp với công an xã Ia Rong, huyện C bắt quả tang Nguyễn Ngọc P có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, khám xét Công an thu giữ:

- 01 viên nén màu xám (P khai nhận là ma túy tổng hợp).

- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh.

- Tiền VNĐ: 147.000 đồng.

- 01 xe mô tô BKS: 81P1-325.51 (nhãn hiệu Honda, loại: Sonic, màu sơn: đỏ - đen-trắng).

- 01 vật có hình khẩu súng bằng kim loại, trong hộp đạn có 05 viên đạn bằng kim loại; 04 viên đạn.

Khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc P không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra, xác định: Bản thân Nguyễn Ngọc P là người nghiện ma túy sử dụng trái phép chất ma túy từ cuối năm 2018 đến nay. Ngày 21/6/2020, tại thành phố Hồ Chí Minh, P có gặp lại người bạn tên là “Đạt”, người Quảng Ngãi (hiện không rõ lai lịch, địa chỉ), là người có quen biết với P trong quá trình P làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh, P được “Đạt” cho 01 viên ma túy tổng hợp và 09 viên đạn bằng chì. Sau khi được “Đạt” cho ma túy P cất giấu trong người để sử dụng. Tối ngày 22/6/2020, P đón xe khách đi từ thành phố Hồ Chí Minh về lại huyện Chư Sê, tỉnh G. Đến sáng ngày 23/6/2020, về đến huyện Chư Sê, P thuê nhà nghỉ để nghỉ lại, sau đó đến phòng trọ mà P thuê trước đó của anh Lê Duy Nghĩa, thôn Dun Bêu, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê lấy chiếc xe mô tô BKS: 81P1-325.51 của anh Lê Hồng P trú tại: TDP2, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh G và khẩu súng tự chế (khẩu súng này P khai nhận là P nhặt được trên đường liên thôn gần chỗ trọ ở thôn Dun Bêu, thị trấn Chư Sê vào tháng 4/2020) rồi bỏ 05 viên đạn chì vào ổ xoay của khẩu súng, 04 viên đạn còn lại P cất giấu trong người cùng với 01 viên ma túy tổng hợp. Tối ngày 23/6/2020 khi đang điều khiển xe mô tô BKS: 81P1-325.51 đi trên đường Hùng Vương, thị trấn Chư Sê thì gặp người bạn tên “Thắng” trú tại thành phố Pleiku, tỉnh G (chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể), Thắng kể bị một số thanh niên ở xã IaRong, huyện C chặn đánh khi đi tán gái thì P đã điều khiển xe mô tô trên chạy xuống xã IaRong. Khi đi đến địa phận thôn Tao Ôr, xã IaRong, huyện C thì bị Công an huyện C phối hợp với công an xã IaRong tiến hành kiểm tra, bắt quả tang P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và lập biên bản niêm P thu giữ số ma túy cùng các đồ vật nói trên.

Tại Kết luận giám định số 513 ngày 01/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G, kết luận:

01 viên nén màu xám trong 01 gói nilon trong bì thư niêm P gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,5247 gam.

Đối với 01 khẩu súng có nòng bằng kim loại, báng bằng gỗ, chiều dài 16,5cm, bên trong ổ đạn có 05 viên đạn chì cùng 04 viên đạn thu giữ trong túi quần dài của P. Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.

Tại Kết luận giám định số 693/C09C-Đ1 ngày 14/7/2020 của Phân viện khoa học kỹ thuật tại TP Đà Nẵng, kết luận: (BL:47).

Khẩu súng gửi giám định là súng ngắn tự chế kiểu súng ổ xoay, sử dụng loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,6)mm, hiện bắn được đạn nổ nên thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao.

09 (chín) viên đạn gửi giám định là đạn cỡ (5,6 x 15,6)mm, hiện còn sử dụng được và thuộc vũ khí thể thao.

Hoàn lại đối tượng giám định: 01 khẩu súng và 05 viên đạn gửi giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh G (đã sử dụng bắn thực nghiệm 04 viên đạn trong tổng số 09 viên đạn gửi giám định).

* Vật chứng của vụ án và đồ vật thu giữ gồm:

- 01 viên ma túy loại MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,4671 gam.

- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng.

Đây là những vật chứng xét có liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện C chuyển đến Chi cục THADS huyện C để quản lý và xử lý theo vụ án.

- Số tiền 147.000đ là tiền bị cáo P đi làm thuê có được không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả lại số tiền trên cho Nguyễn Ngọc P.

- Đối với xe mô tô BKS: 81P1-325.51 (nhãn hiệu HONDA, loại: SONIC, màu đỏ-đen-trắng) mà Nguyễn Ngọc P điều khiển tối ngày 23/6/2020, quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp P của anh Lê Hồng P. Chiếc xe này anh P mua lại của anh Đặng Minh Cường (trú tại: TDP10, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê) vào ngày 10/5/2020. Anh P không có liên quan đến hành vi phạm tội của P, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý giao trả chiếc xe trên cho anh P.

- Đối với 01 khẩu súng thu giữ, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao và 05 viên đạn cỡ (5,6 x 15,6)mm còn lại sau giám định. Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiến hành tiêu hủy.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu và tiêu hủy 01 viên ma túy loại MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,4671 gam; trả lại cho Nguyễn Ngọc P 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về việc làm vi phạm P luật của mình; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp P.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Nguyễn Ngọc P là đối tượng nghiện ma túy. Tối ngày 23/6/2020, P điều khiển xe mô tô BKS 81P1-325.51 đến địa phận thôn Tao Ôr, xã IaRong, huyện C thì bị Công an huyện kiểm tra phát hiện thu giữ: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh, số tiền 147.000 đồng, 01 xe mô tô BKS: 81P1-325.51 (nhãn hiệu HONDA, loại: SONIC, màu đỏ-đen-trắng), 01 khẩu súng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao và 09 viên đạn cỡ (5,6 x 15,6)mm, trong người P 01 viên ma túy loại MDMA có khối lượng là 0,5247g, P khai là để sử dụng

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G truy tố là đúng người, đúng tội.

Về tính chất, vai trò, nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội ở địa phương, nếp sống văn minh, bị quần chúng nhân dân và dư luận xã hội lên án. Tàng trữ trái phép chất ma túy cần phải được nghiêm trị, loại ra khỏi đời sống xã hội; gia đình phải ly tán vì tệ nạn ma túy, sử dụng tiêm chích ma túy cũng là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ vô cùng nguy hiểm AIDS mà hiện nay trên thế giới chưa có thuốc chữa trị hữu hiệu. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 04/11/2011 bị Công an xã IaBlang, huyện Chư Sê xử phạt hành chính về hành vi “gây rối trật tự công cộng”; đã từng bị kết án tù được học tập, giáo dục tại trại cải tạo lại không lấy đó làm bài học khắc phục, sửa chữa sai lầm của bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi Nguyễn Ngọc P tàng trữ trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao, hành vi đó có dấu hiệu của tội “tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bản thân P chưa bị xử lý hành chính hay bị kết án về một trong các hành vi quy định tại điều này. Do đó, hành vi của Nguyễn Ngọc P không cấu thành tội Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã đề nghị Chủ tịch UBND huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc P về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” theo điểm d, khoản 5, Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ngày 04/9/2020, Chủ tịch UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc P với số tiền 15.000.000đ là đúng P luật.

Đối với người đàn ông tên “Đạt” mà Nguyễn Ngọc P khai báo là đã cho P 01 viên ma túy, loại MDMA và 09 viên đạn chì tại Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra xác minh hiện vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này. Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau là đúng P luật.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 viên ma túy loại MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,4671 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử tịch thu và tiêu hủy.

- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng không phải là vật chứng và là tài sản hợp P của Nguyễn Ngọc P nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Ngọc P.

- Số tiền 147.000đ là tiền bị cáo P đi làm thuê có được không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả lại số tiền trên cho Nguyễn Ngọc P là đúng P luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với xe mô tô BKS: 81P1-325.51 (nhãn hiệu HONDA, loại: SONIC, màu đỏ-đen-trắng) mà Nguyễn Ngọc P điều khiển tối ngày 23/6/2020 khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp P của anh Lê Hồng P. Chiếc xe này anh P mua lại của anh Đặng Minh Cường (trú tại: TDP10, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê) vào ngày 10/5/2020. Anh P không có liên quan đến hành vi phạm tội của P, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý giao trả chiếc xe trên cho anh P là đúng P luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với 01 khẩu súng có nòng bằng kim loại, báng bằng gỗ, là loại súng ngắn tự chế kiểu súng ổ xoay, sử dụng loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,6)mm, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao và 05 viên đạn cỡ (5,6 x 15,6)mm còn lại sau giám định. Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiến hành tiêu hủy là đúng P luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Ngọc P có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của P luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P : 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ (ngày 23/6/2020).

2. Về vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử tịch thu và tiêu hủy 01 viên ma túy loại MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,4671 gam; trả lại cho Nguyễn Ngọc P 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng. Đặc điểm nhận dạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người vắng mặt có quyền kháng cao kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ