- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang D.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 23/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14/7/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Nguyệt;
2. Ông Hồ Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 89/2020/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2020 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXX- DS ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Néang D, sinh năm: 1988; địa chỉ cư trú: Tổ 38, ấp NT, xã AT, huyện TT, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Chau T, sinh năm: 1988; địa chỉ cư trú: Tổ 02, ấp NL, xã AT, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, bà Néang D có mặt; ông Chau T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 30/01/2020 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Néang D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà với ông Chau T được hình thành là do mai mối, cha mẹ hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2009. Hôn nhân có đăng ký kết hôn trễ hạn ngày 10/01/2010 tại UBND xã AT, theo số 10/2010. Cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thống nhất lên Bình Dương làm thuê, nhưng ông Thai lười biếng chỉ lo tụ tập bạn bè ăn nhậu lại còn xúc phạm đến bà, cứ thế kéo dài bà không chịu được nữa nên ly thân từ hơn 01 năm nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng thật sự không còn, bà xin ly hôn với ông Chau T.
Về quan hệ con chung: Bà với ông Chau T có 01 con chung tên Chau Vuth Thi, sinh ngày 02/8/2012, hiện do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà với ông Chau T không có tài sản chung, không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Chau T để tham gia công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà Néang D bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông Chau T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà D – ông T chung sống có đăng ký kết hôn, được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông Chau T lo tụ tập bạn bè ăn nhậu lại còn xúc phạm đến bà, xảy ra thường xuyên nên bà D xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung Chau Vuth Thi, hiện do bên bà D nuôi, bà D có việc làm và thu nhập, nên giao cháu Thi cho bà D tiếp tục nuôi theo ý nguyên của cháu, công nhận tự nguyện của bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà D khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông T, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Thai có địa chỉ cư trú tại xã AT, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT giải quyết đúng thẩm quyền. Ông T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2009, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10/2010, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà D bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông Chau T lười biếng bỏ bê công việc, không quan tâm gia đình, tụ tập bạn bè ăn nhậu, kiếm chuyện xúc phạm bà. Qua trình bày của bà D, mặc dù ông Chau T vắng mặt nhưng tại các biên bản xác minh vào ngày 04/6/2020 của Tòa án thể hiện: Vợ chồng bà D – ông T có mâu thuẫn từ hơn 01 năm nay, do kinh tế khó khăn, nên vợ chồng xảy ra gây cải và ông T buồn chán rồi ăn nhậu cùng bạn bè, mâu thuẫn lớn dần, cha mẹ hai bên khuyên ngăn nhưng không thành, ông T bỏ nhà đi và hai người ly thân nhau… khã năng hàn gắn giữa hai người là không thể…
Với những chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà D – ông T đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy cháu Chau Vuth Thi từ sau khi sinh do bà D nuôi, hiện tại cháu D được ông bà ngoại trực tiếp chăm sóc, nhưng bà D là người có công việc làm và thu nhập ổn định, bà D lo chu cấp toàn bộ cho cháu Thi và theo ý nguyện của cháu sau khi ly hôn cháu Thi yêu cầu tiếp tục sinh sống bên mẹ. Do đó, để không xáo trộn về tâm sinh lý cũng như để cho cháu Thi phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên giao cháu Thi cho bà tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
Hội đồng xét xử cũng giải thích cho bà D biết: Trong thời gian nuôi con, bà D cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà D không yêu cầu nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà D khai không có tài sản chung, không có nợ chung. Tuy nhiên do ông T vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông T có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung và có nợ chung và ông T có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên!
UY T ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Néang D được ly hôn với ông Chau T.
Về quan hệ con chung: Bà Néang D được tiếp tục nuôi con chung tên Chau Vuth Thi sinh ngày 02/8/2012.
Công nhận tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Chau T cấp dưỡng nuôi con.
Bà D cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông Chau T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Bà Néang D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009698 ngày 10/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn (bà D nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2020), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành. - UBND xã AT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |