vanban.org

Bản án 23/2020/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Buộc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền nợ thức ăn gia súc là 63.285.000 đồng (sáu mươi ba triệu, hai trăm tám mươi lăm ngàn đồng); Thời gian thực hiện trả tiền một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Minh - Lê Thị Thuý Đào, Lê Phi Long"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/DSST
Ngày: 18/02/2020
V/v tranh chấp: “Hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Vũ Bình.

Ông Trương Hoàng Hoa.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Lĩnh, thư ký Tòa án.

Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 448/2019/TLST-DS ngày 13/12/2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-DS ngày 08/01/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1963; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1988; (có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Lê Thuý Đ, sinh năm 1974; (có mặt)

Lê Phi L, sinh năm 1972; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn Nguyễn Văn M trình bày: Từ năm 2016 đến năm 2018, ông Nguyễn Văn M có bán thức ăn gia súc cho anh Lê Phi L, chị Lê Thúy Đ và có thỏa thuận sau khi bán heo xong sẽ thanh toán toàn bộ nợ tiền thức ăn gia súc, việc mua bán thức ăn có mở sổ theo dõi. Đến ngày 31/10/2018, ông M và chị Đ, anh L tổng kết số tiền còn nợ thức ăn gia súc là 69.285.000 đồng. Sau đó, chị Đ, anh L trả được 03 lần tiền với tổng số tiền là 6.000.000 đồng nên chị Đ, anh L còn nợ số tiền là 63.285.000 đồng. Anh L, chị Đ hứa trả số tiền trên nhưng đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng anh L, chị Đ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Ông M yêu cầu anh L, chị Đ có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 63.285.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Lê Thúy Đ, Lê Phi L trình bày: Thống nhất cùng lời trình bày của ông M và thừa nhận còn nợ số tiền 63.285.000 đồng và đồng ý trả số tiền trên nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Anh L, chị Đ có nghĩa vụ liên đới trả số tiền còn nợ thức ăn gia súc 63.285.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Lê Thuý Đ thừa nhận còn nợ số tiền 63.285.000 đồng và đồng ý trả số tiền trên nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ;

Bị đơn Lê Phi L vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Xét quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự; Thời hạn, thời hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân Sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Phi L theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, anh L vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt anh L.

Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hạn, thời hiệu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về việc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả số tiền mua bán thức ăn gia súc 63.285.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời trình bày và chứng cứ của ông Nguyễn Văn M thì từ năm 2016 đến năm 2018, ông Nguyễn Văn M có bán thức ăn gia súc cho anh Lê Phi L, chị Lê Thúy Đ và có thỏa thuận sau khi bán heo xong sẽ thanh toán toàn bộ nợ tiền thức ăn gia súc, việc mua bán thức ăn có mở sổ theo dõi. Đến ngày 31/10/2018, ông M và chị Đ, anh L tổng kết số tiền còn nợ thức ăn gia súc là 69.285.000 đồng. Sau đó, chị Đ, anh L trả được 03 lần tiền với tổng số tiền là 6.000.000 đồng nên chị Đ, anh L còn nợ số tiền là 63.285.000 đồng. Anh L, chị Đ hứa trả số tiền trên nhưng đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng anh L, chị Đ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Căn cứ vào sổ theo dõi mua bán thức ăn gia súc tại ngày 31/10/2018, biên bản hoà giải ngày 06/01/2020 và tại phiên toà, chị Lê Thuý Đ thống nhất cùng lời trình bày của đại diện nguyên đơn và thừa nhận anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có mua thức ăn gia súc của ông Nguyễn Văn M và còn nợ tổng số tiền là 63.285.000 đồng, anh L, chị Đ chưa trả số tiền trên;

Từ những căn cứ nêu trên, Hội động xét xử nhận thấy: Ông Nguyễn Văn M có hợp đồng mua bán thức ăn gia súc cho anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ và sau khi kết toán lại thì còn nợ số tiền 63.285.000 đồng, anh L, chị Đ chưa trả số tiền trên. Do đó cần buộc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả số tiền nợ thức ăn gia súc là 63.285.000 đồng cho ông Nguyễn Văn M.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn M về việc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả số tiền 63.285.000 đồng, thời gian trả tiền làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn M về thời gian trả tiền là có cơ sở, bởi vì anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho ông M nên đã xâm phạm đến quyền lợi của ông M. Do đó cần buộc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả số tiền nợ thức ăn gia súc 63.285.000 đồng, thời gian trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho ông M theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 430, 440, 468, 357, 688 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Buộc anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền nợ thức ăn gia súc là 63.285.000 đồng (sáu mươi ba triệu, hai trăm tám mươi lăm ngàn đồng);

Thời gian thực hiện trả tiền một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật;

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí: Anh Lê Phi L, chị Lê Thuý Đ phải chịu 3.164.250 đồng (ba triệu, một trăm sáu mươi bốn ngàn, hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại cho ông M số tiền tạm ứng án phí mà ông M đã nộp 1.582.000 đồng (một triệu, năm trăm tám mươi hai ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003219 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với anh Lê Phi L vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ