vanban.org

Bản án 23/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 14/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt Vũ Văn Q 27 ( hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/01/2019. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HSST
Ngày: 14 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Duy Toán. Bà Bùi Thị Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh, Thẩm tra viên toà án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2019/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 24/2019/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn Q, sinh ngày 22/12/2000; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ Vũ Văn Q, sinh năm 1980 (đã chết); mẹ đẻ Phạm Thị H, sinh năm 1972.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2019.

Bị cáo Vũ Văn Q có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Đinh Thị B, sinh năm 1975 (đã chết); trú ở tổ 10, thị trấn G, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo pháp luật của bà Đinh Thị B là:

1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1933; trú tại: Thôn 3, thị Trấn G, huyện T, tỉnh Nam Định (là mẹ của chị Đinh Thị B). 2. Chị Vũ Thị Quỳnh T, sinh năm 1995; HKTT: Tổ 10, thị trấn G, huyện T, tỉnh Nam Định (là con của chị Đinh Thị B). 3. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1972; trú tại: Tổ 10, thị trấn G, huyện T, tỉnh Nam Định (là chồng của chị Đinh Thị B).

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của chị Đinh Thị B là Anh Vũ Văn K, sinh năm 1972; trú tại: Tổ 10, thị trấn Giang, huyện T, tỉnh Nam Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2018, Vũ Văn Q (không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONCIN không gắn BKS có dung tích xi lanh động cơ 106 cm3, đi trên tỉnh lộ 490C theo hướng từ thị trấn Nam Giang đi thành phố Nam Định (hướng Nam Bắc). Khi Q điều khiển xe mô tô đến Km 9 tỉnh lộ 490C thuộc địa phận tổ 10, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định thì đánh lái sang bên trái đường theo hướng đi và đã xô vào bà Đinh Thị B, đi bộ từ bên phải đường sang bên trái đường theo hướng đi của Vũ Văn Q, tại vị trí vạch kẻ đứt quãng giữa lòng đường, làm bà B bị ngã ở phần mặt đường bên trái theo hướng đi của Q, xe mô tô bị đổ nghiêng bên trái, nằm giữa lòng đường. Hậu quả: chị Đinh Thị B bị thương nặng được người thân đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu và đã bị chết vào ngày 24/11/2018.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 23 tháng 11 năm 2018 thể hiện:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ta ̣i Km 9, tỉnh lộ 490c, thuộc tổ dân phố số 10, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; đường thẳng; mặt đường trải nhựa phẳng, lòng đư ờng rộng 10 m; giữa có vạch kẻ đứt quãng chia đường thành 2 làn đường ngược chiều nhau; bên phía Đông và bên phía Tây là nhà dân.

- Xe mô tô không gắn BKS do Vũ Văn Q điều khiẻn đổ nghiêng sang trái, đầu xe quay hướng đông bắc, đuôi xe quay hướng tây nam. Trục trước xe mô tô cách mép đường phía đông là 4,45m. Trục sau xe mô tô cách mép đường phía đông là 5,33m và cách mép phía nam nhà ông Cao Văn X là 9,27m.

- Vùng máu khô KT (0,8 x 0,4)m. Tâm vùng máu cách mép đường phía đông là 6,54m, cách trục sau xe mô tô là 2,42m, cách tâm vùng nhựa vỡ là 2,62m và cách mép phía bắc nhà ông Cao Văn Xướng là 7,6m.

- Vùng nhựa vỡ KT (5 x 2,6)m. Tâm vùng nhựa vỡ cách mép đường phía đông là 6,34m, cách trục sau xe mô tô là 1,15m.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1010/GĐKTHS ngày 30 tháng 11 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Bà Đinh Thị B chết do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nam Trực tiến hành khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu LONCIN do Vũ Văn Q điều khiển có số khung DR100*00008890*, số máy LC150FMG*02063017* bị hư hỏng phần nhựa và tại công văn số 02 ngày 12/3/2019 của Trung tâm đăng kiểm phương tiện giao thông Sở giao thông vận tải Nam Định, xác định xe mô tô trên có dung tích xi lanh động cơ là 106 cm3.

Bị cáo Vũ Văn Q và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Văn Q.

Bị cáo Vũ Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố tại bản cáo trạng số 25/CT - VKS ngày 16 tháng 4 năm 2019 và tại phiên Tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 91, Điều 101; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến, tranh luận gì về bản cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa.

Ý kiến của đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Văn Q.

Bị cáo Vũ Văn Q nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét toàn diện đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, khi khởi tố, điều tra và xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi nên về trình tự, thủ tục Tố tụng hình sự được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án đối với bị cáo là người đã thành niên là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Q tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ: Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 23 tháng 11 năm 2018, bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1010/GĐKTHS ngày 30 tháng 11 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định ; công văn số 02 ngày 12/3/2019 của Trung tâm đăng kiểm phương tiện giao thông Sở giao thông vận tải Nam Định và lời khai của người làm chứng tại Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2018 tại Km 9 tỉnh lộ 490C thuộc địa phận tổ 10, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Vũ Văn Q không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, không gắn Biển kiểm soát có dung tích xi lanh động cơ 106 cm3, đi trên tỉnh lộ 490C theo hướng từ thị trấn Nam Giang đi thành phố Nam Định đã không quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, đã xô vào bà Đinh Thị Bẩy và làm bà Đinh Thị B chết.

Bị cáo Vũ Văn Q điều khiển xe mô tô, không có giấy phép lái xe, đi trong khu dân cư, không giảm tốc độ và không nhường đường cho người đi bộ sang đường đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 5, khoản 6 Điều 5 thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải; hậu quả làm 01 người chết. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã gây tổn thất cho người bị hại, gia đình người bị hại; gây lên sự bất bình trong quần chúng nhân dân; thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác; coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đại diện cho người bị hại có đơn và tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, thấy cần phải xử lý bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt cho xã hội, thể hiện tính răn đe nghiêm khắc của pháp luật và phòng ngừa chung đối với người tham gia giao thông. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định hình phạt.

Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN không gắn BKS do Vũ Văn Q điều khiển. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực chưa xác định được chủ sở hữu, nên đã tách ra để xác minh và xử lý sau nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q và gia đình đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 260; Điều 98; khoản 1 Điều 101 ; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2. Xử phạt Vũ Văn Q 27 ( hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/01/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Văn Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn Q và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ