vanban.org

Bản án 23/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 31/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố Lý Dúa V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Lý Dúa V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, kể từ ngày bắt: 07/12/2018. [3] Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Dúa V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố Lý Dúa V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HS-ST
Ngày 31- 5- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Chử Dung và ông Tao Văn Vinh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã S, huyện NP; Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2019/TLST-HS ngày 04/4/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HS ngày 17/5/2019 đối với bị cáo:

Lý Dúa V: Sinh năm 1961 tại huyện Tuần Giáo - Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NC 2, xã S, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Chống C (Đã chết) và con bà: Mùa Thị M (Mùa Thị Cháng), (Đã chết); Bị cáo có vợ là V Thị D sinh năm 1964 và có 10 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án;

Nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 41/2015/HSST ngày 23/9/2015, đến ngày 02/9/2017 chấp hành xong án, về sinh sống tại địa phương.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2018 cho tới nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị V Thị D; sinh năm 1964 (Là vợ bị cáo Lý Dúa V). Địa chỉ: Bản NC 2, xã S, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Phùng Việt H

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên. Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho bị cáo Lý Dúa V (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 07/12/2018, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với Công an xã S làm nhiệm vụ tại khu vực bản Phi Lĩnh, xã S, huyện NP phát hiện bắt quả tang Lý Dúa V đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 27V1- 0661 đi hướng xã T, huyện MC về xã S, có nhiều biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu Lý Dúa V dừng xe kiểm tra hành chính, qua kiểm tra đã phát hiện Lý Dúa V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bên tay trái. Tổ công tác đã yêu cầu Lý Dúa V tự giác nộp 01 gói ni lông màu đen, mở bên trong là 01 gói ni lông màu xanh có chứa chất bột dạng nén màu trắng, nghi là Heroine. Lý Dúa V khai nhận đó là Heroine. Lý Dúa V mua của một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực km 18 thuộc xã T, huyện MC với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm 01 gói ni lông màu đen bên trong chứa chất bột dạng nén màu trắng, nghi là Heroine và 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27V1- 0661 của Lý Dúa V.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 10/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định, gói vật chứng thu giữ của Lý Dúa V có khối lượng 0,35 (Không phẩy ba lăm) gam.

Bản kết luận giám định số: 146/GĐ-PC09, ngày 20/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lý Dúa V gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

Bản cáo trạng số: 20/CT-VKSNP ngày 01/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Lý Dúa V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lý Dúa V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Lý Dúa V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Dúa V mức án từ 24 đến 30 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy là 0,3 gam Heroine và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe máy thu giữ của bị cáo V, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe máy cho vợ bị cáo V.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Miễn án phí án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Dúa V nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Phùng Việt H là người bào chữa cho bị cáo Lý Dúa V cho rằng về tội danh ông không có ý kiến gì. Bị cáo Lý Dúa V sinh sống tại vùng sâu vùng xa, từ nhỏ không được đi học, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt cho bị cáo Lý Dúa V mức hình phạt thấp nhất do kiểm sát viên đề nghị. Đồng thời xem xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Dúa V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Lý Dúa V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 07/12/2018, Lý Dúa V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Phi Lĩnh, xã S.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 10/12/2018; Kết luận giám định số 146/GĐ-PC09, ngày 20/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Lý Dúa V đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc ̣ trường hợp nghiêm trọng và nguy

̣ hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Lý Dúa V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy để góp phần đẩy lùi tệ nạn mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo Lý Dúa V cần phải xử lý nghiêm với mức hình phạt tương xứng, nhằm răn đe, giáo duc ̣ và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Xét đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo thấy: Bị cáo Lý Dúa V là dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, do nhận thức pháp luật còn hạn chế. HĐXX sẽ xem xét cân nhắc việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Lý Dúa V sinh ra trong gia đình làm ăn lương thiện, từ nhỏ không được đi học. Do bị cáo không chịu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã sớm nghiện chất ma túy. Năm 2015 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về cùng tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 41/2015/HSST ngày 23/9/2015. Đến ngày 02/9/2017 bị cáo được ra trại về địa phương, đến ngày 07/12/2018 bị cáo V có hành vi phạm tội trọng vụ án này là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. HĐXX thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Dúa V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Lý Dúa V có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lý Dúa V khai nhận đã mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực km 18 thuộc xã T, huyện MC nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Gồm 0,3 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gủi giám định, không hoàn lại) cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe máy màu đen bạc, nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 27V1-0661 thu giữ của bị cáo. Qua xác minh là tài sản chung của bị cáo và vợ là VàngThị D. Do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1/2 trị giá của chiếc xe, trị giá 1/2 thuộc quyền sở hữu của chị V Thị D nên cần trả lại cho vợ bị cáo V.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS ; Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Lý Dúa V là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố Lý Dúa V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Lý Dúa V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, kể từ ngày bắt: 07/12/2018.

[3] Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ 0,3 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 1/2 trị giá của 01 chiếc xe máy cũ màu đen bạc, nhãn hiệu SYM, số loại ELEGANTII, biển kiểm soát 27V1-0661, số khung 054457, số máy 054457; Trả lại 1/2 trị giá chiếc xe máy cho chị V Thị D là vợ của bị cáo Lý Dúa V.

Chị V Thị D có quyền làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện NP trả 1/2 giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 27V1-0661, số khung 054457, số máy 054457 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu hành án dân sự được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Dúa V.

[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ