vanban.org

Bản án 23/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 06/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17 tháng 01 năm 2019). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HS-ST
Ngày 06 - 6 – 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Niên.

Bà Đoàn Hải Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019 tại Nhà văn hóa Ủy ban nhân dân xã Tự Tân, huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1984 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Không biết họ, tên; mẹ đẻ: Nguyễn Thị H; chưa có vợ; chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 17 tháng 01 năm 2019 đến ngày 23 tháng 01 năm 2019 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

2. Anh Tô Văn Q, sinh năm 1974; địa chỉ: Ngõ 17, tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 01 năm 2019, Nguyễn Văn Kh thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình lên thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến khu vực cầu Cống Trắng thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, Kh bảo người lái xe ôm dừng xe và đứng đợi, Kh đi bộ vào một ngõ nhỏ gần đó gặp và mua của 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 100.000 đồng được 01 gói ma túy bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ. Mua xong, Kh không mở ra kiểm tra mà bỏ gói ma túy trên vào trong bao thuốc lá Thăng Long và cất giấu vào trong túi quần dài bên trái phía trước Kh đang mặc rồi đi bộ quay lại chỗ người lái xe ôm bảo chở về thị trấn V. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi về đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình, Kh xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ vào hiệu thuốc tân dược ở cổng Bệnh viện mục đích mua bơm kim tiêm để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Phạm Văn H và anh Tô Văn Q, tổ công tác thu tại túi quần dài bên trái phía trước Kh đang mặc 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Kh khai đó là Hêrôin, Kh mua mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định. Ngoài ra, tổ công tác còn quản lý của Kh 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc lá, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia dạng bàn phím, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 20.000 đồng.

Cùng ngày 17 tháng 01 năm 2019 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Kh. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ tài sản, đồ vật gì.

Tại Kết luận giám định số 15/KLGĐ-PC09 ngày 17 tháng 01 năm 2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Nguyễn Văn Kh là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1511 gam (không phẩy một nghìn năm trăm mười một gam).

Cáo trạng số 23/CT-VKSVT ngày 22 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện V , tỉnh Thái Bình truy tố́ ra trước Tòa án nhân dân huyện V , tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn Kh khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,1359 gam Hêrôin hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 15/KLGĐ-PC09 và 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc lá; trả lại bị cáo số tiền 20.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia dạng bàn phím, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Kh đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Văn Kh nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Kh khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 01 năm 2019, tại khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn Kh tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1511 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Hành vi trên của Nguyễn Văn Kh đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Kh không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy cần phải áp dụng với bị cáo mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi, bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc lá hiện không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 20.000 đồng và 01 điện thoại Nokia là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại bị cáo nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn Kh khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực cầu Cống Trắng thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Kh có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17 tháng 01 năm 2019).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Kh còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 15/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc lá.

3.2. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Kh số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại Nokia dạng bàn phím, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 06 tháng 5 năm 2019)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Kh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 06 tháng 6 năm 2019.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ