vanban.org

Bản án 23/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,5594 gam ma túy Heroin mẫu vật còn lại sau giám định. Số lượng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk và Chi cục thi hành án dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân C tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 23/2019/HS-ST
ngày 26 - 9 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRĂK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Ngô Trọng Búp; ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân C sinh ngày 12 tháng 08 năm 1987 tại huyện B, tỉnh H; Nơi cư trú: thôn 10, xã E, huyện M, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Xuân C1 sinh năm: 1961 và bà Đỗ Thị V sinh năm: 1963, trú tại thôn 10, xã E, huyện M; Có vợ là Trịnh Thị D (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Ngày 20/01/2016, bị Toà án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2016/HSST, đương nhiên được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M’đrăk. Bị cáo được trích xuất đến phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Xuân C2 sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn 10, xã E, huyện M, tỉnh Đ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 09 giờ ngày 29/6/2019 Nguyễn Xuân C mượn xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 47G1- 127.99 của anh Nguyễn Xuân C2 (anh của C) nói là đi ăn tiệc. C điều khiển xe đến xã Ea Đah, huyện Krông Năng tìm mua ma tuý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, gần đến làng người dân tộc Mông, C gặp một người phụ nữ tên “May”, C đưa 600.000 đồng cho chị “May” nhờ mua ma tuý (loại Heroine). C đứng đợi khoảng 15 phút, chị “May” cầm 02 gói ni-lon bên trong đựng Heroine đưa cho C. C cất dấu vào trong túi áo khoác của mình rồi điều khiển xe mô tô đi về.

Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, C về đến Km 70, Quốc lộ 26 thuộc địa phận thôn 10, xã Ea Pil, huyện M’Đrăk thì bị tổ tuần tra của Công an huyện M’Đrăk yêu cầu C dừng xe để kiểm tra. C đã tự nguyện lấy 02 gói ma tuý trong túi áo khoác, giao nộp cho tổ tuần tra. Tổ tuần tra đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối vớiC .

Căn cứ Bản Kết luận giám định số 544/GĐMT-PC09 ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk kết luận: Chất dạng bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,6024 gam, loại: Heroine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,5594 gam.

* Vật chứng tạm giữ: 0,5594 gam ma tuý, loại Heroine, đã niêm phong, là mẫu vật còn lại sau giám định quy định; 350.000 đồng của Nguyễn Xuân C; 01 điện thoại di động hiệu SamSung của Nguyễn Xuân C;01 xe mô tô BKS 47G1-127.99 nhãn hiệu Yamaha.

* Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk truy tố bị cáo Nguyễn Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Kết quả xét hỏi, tại phiên tòa:

Bị cáo khai: bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2015, tháng 02 năm 2019 bị cáo tự nguyện đi cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện. Sau khi cai nghiện về được khoảng 10 ngày, khoảng 09 giờ ngày 29/06/2019, bị cáo mượn xe mô tô BKS 47G1-127.99 của anh Nguyễn Xuân C2 để điều khiển xe đến làng người dân tộc Mông tại xã Ea Đah, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tìm mua ma tuý để sử dụng. Gặp một người phụ nữ tên “May”, bị cáo không xác định được nhân thân, lai lịch. Bị cáo nhờ chị May mua giúp 600.000đồng ma tuý, loại Heroine. Chị May đưa cho bị cáo 02 tép ma túy loại Heroine gói trong tờ giấy trắng, bọc ni-lon. Bị cáo cất dấu vào trong túi áo khoác của mình. Trên đường điều khiển xe mô tô về nhà thì bị tổ tuần tra của Công an huyện M’Đrăk kiểm tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho tổ tuần tra Công an huyện M’Đrăk toàn bộ số ma tuý mà bị cáo đã mua.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân C2 trình bày: ông C2 là anh của bị cáo, khoảng 09 giờ ngày 29/6/2019, bị cáo nói mượn xe mô tô BKS 47G1- 127.99 thuộc quyền sử hữu của ông C2 để đi ăn tiệc tại nhà bạn của bị cáo. Ông C2 không biết bị cáo sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Ông C2 đã được nhận lại xe mô tô tô BKS 47G1- 127.99, ông C2 không yêu cầu gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS):

+Tịch thu tiêu hủy 0,5594 gam ma tuý Heroin là mẫu vật còn lại sau giám định;

+Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả : xe mô tô BKS 47G1-127.99 cho ông Nguyễn Xuân C2; trả lại 01 điện thoại di động và số tiền 350.000 đồng cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M’Đrắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo và đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/6/2019, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 29 tháng 6 năm 2019, tại thôn 10, xã EaPil, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Lực lượng Công an huyện M’Đrắk đã phát hiện, bắt quả tang bị cáo Nguyễn Xuân C cất giữ 02 gói giấy đựng Heroine dạng bột, nhằm mục đích sử dụng. Theo Bản Kết luận giám định số 544/GĐMT-PC09 ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk kết luận: Chất dạng bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy là ma tuý, có tổng khối lượng 0,624gam, loại Heroine (khối lượng còn lại sau giám định là 0,5594 gam). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a/ …

c/ Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Xét tính chất, mức độ cũng như hậu qủa về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Đối với đối tượng tên “May”, mua giúp bị cáo số ma túy với giá 600.000 đồng, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xem xét xử lý. HĐXX đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M’Đrăk tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có đủ cơ sở sẽ xem xét xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,5594 gam ma túy Heroin mẫu vật còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô BKS 47G1-127.99 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Xuân C2, ông C2 không biết bị cáo mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả lại cho ông C2 là đúng quy định của pháp luật. Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung và 350.000đồng, bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện M’Đrăk đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật, HĐXX cần chấp nhận.

Về án phí: bị cáo bị kết án, bị cáo phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ 29/6/2019.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,5594 gam ma túy Heroin mẫu vật còn lại sau giám định. Số lượng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk và Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk.

- Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả: xe mô tô BKS 47G1-127.99 cho ông Nguyễn Xuân C2; điện thoại di động và số tiền 350.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Xuân C.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Xuân C phải chịu 200.000đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

* Báo cho bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ