vanban.org

Bản án 23/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/7/2019. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 23/2019/HS-ST
Ngày 16-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Dung

Bà Đinh Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/ QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Huy T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 05/5/1973 tại huyện B, tỉnh V;

Nơi cư trú: Tổ x thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Huy L, sinh năm 1932 (đã chết) và con bà: Lưu Thị T, sinh năm 1938 hiện trú tại xã T, huyện B, tỉnh V.

Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, hiện trú tại Tổ x thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 23/7/2019, tạm giam ngày 01/8/2019, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Hg - sinh năm 1979, địa chỉ: tổ x thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Lưu Tuấn N, anh Nguyễn Mạnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 20 phút ngày 23/7/2019, tại tổ 3A thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, công an huyện Bảo Yên bắt quả tang Nguyễn Huy T đang cầm trên tay 02 gói nhỏ được gói bằng tờ lịch bên trong có chứa chất bột khô, vón cục màu trắng. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Huy T tại Tổ x thị trấn P phát hiện thu giữ tại gác xép 01 gói giấy mặt ngoài màu xanh mặt trong màu trắng bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục, Nguyễn Huy T khai các chất thu giữ đều là Heroin bị cáo mua về để sử dụng và có ai mua thì bán kiếm lời.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Huy T khai nhận: Sáng ngày 21/7/2019, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K3-2359 đến khu vực bản C, xã Y, huyện B để mua ma túy. Bị cáo gặp và mua của một người đàn ông đứng bên lề đường quốc lộ 279 số lượng 02 gói ma túy với giá 400.000đ, sau đó bị cáo cầm ma túy về nhà cất giấu tại gác xép trong nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 23/7/2019 có Lưu Tuấn N là người nghiện ma túy đến làm thuê tại xưởng mộc nhà bị cáo, bị cáo lấy 01 gói ma túy cất giấu trên gác xép đưa cho N và nói “đây là công ngày hôm nay”. Nhiên hiểu ý bị cáo trả tiền công bằng ma túy nên đã cầm gói ma túy và sử dụng. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô 24K3-2359 tiếp tục đi theo đường quốc lộ 279 hướng ra xã Y để mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến khu vực bản C, xã Y bị cáo gặp lại người đàn ông hôm trước đã bán ma túy cho bị cáo đang đi xe máy ngược chiều và tiếp tục mua của người này 02 gói ma túy với giá 400.000đ. Bị cáo cầm ma túy trên tay trái điều khiển xe đến khu vực tổ y thị trấn P thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Tại kết luận giám định số 178/GĐMT ngày 25/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1 (02 gói được gói bằng tờ lịch bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục) có khối lượng 0,19 gam là loại chất ma túy Heroine. Mẫu M2 (01 gói được gói bằng tờ giấy mặt ngoài màu xanh mặt trong màu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục) có khối lượng 0,1 gam là loại chất ma túy Heroine.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Huy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Chị Nguyễn Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị không biết việc bị cáo mua bán và cất giấu ma túy trong nhà. Chị thừa nhận chiếc xe máy Honda Future biển kiểm soát 24K3-2359 là tài sản chung của vợ chồng và có nguyện vọng xin lại chiếc xe, chị cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1,5 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ sung quỹ Nhà nước. Về vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,17 gam ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ 1/2 giá trị xe máy Honda Future biển kiểm soát 24K3-2359, trả lại cho chị H 1/2 giá trị còn lại của xe; Đề nghị trả lại cho bị cáo điện thoại Nokia TA 1034, tiếp tục tạm giữ số tiền 400.000đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

.Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Huy T khai nhận ngày 21/7/2019 và ngày 23/7/2019 bị cáo đã có hành vi mua chất ma túy nhằm sử dụng cho bản thân và bán trái phép cho người khác. Khoảng 06 giờ ngày 23/7/2019 bị cáo đã dùng ma túy trao đổi thanh toán tiền công cho Lưu Tuấn N. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định, tổng trọng lượng ma túy đã thu giữ của bị cáo là 0,29 gam Heroine. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về hình phạt: Bị cáo Nguyễn Huy T là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo nghiện hút ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo khai bản thân không có tài sản gì, tuy nhiên căn cứ kết quả điều tra xác minh và quá trình xét hỏi cho thấy bản thân bị cáo lao động tại xưởng của gia đình, tại nơi cư trú bị cáo và vợ có tài sản chung là nhà và xưởng gỗ, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo có mục đích kiếm lời nên cần phải tuyên phạt bị cáo hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về các vấn đề có liên quan trong vụ án:

Theo lời khai của bị cáo, ngày 21/7 và 23/7/2019 bị cáo đã mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực bản C, xã Y. Quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch của người này nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là đúng pháp luật.

Đối với anh Lưu Tuấn N là người đã được bị cáo thanh toán tiền công bằng ma túy và N đã sử dụng hết ma túy, hành vi của N không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, xét thấy là phù hợp.

. Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,29 gam Heroine, cơ quan giám định đã sử dụng 0,12 gam và hoàn lại 0,17 gam, xét thấy đây là vật chứng thuộc diện cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo số tiền 400.000đ theo lời khai của bị cáo là tiền do bị cáo lao động mà có. Xét thấy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc điện thoại di động Nokia TA 1034, loại máy bàn phím cũ đã qua sử dụng. Xét thấy đây là tải sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Future màu xanh dương biển kiểm soát 24K3-2359, xe cũ đã qua sử dụng, không có giấy tờ đăng ký xe. Quá trình điều tra xác minh chiếc xe đăng ký mang tên Bùi Thị D, địa chỉ: Tổ z phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Theo lời khai của chị D thì giấy tờ xe đã bị mất, năm 2010 chị đã bán chiếc xe cho bị cáo Nguyễn Huy T, bị cáo và chị Nguyễn Thị H đều thừa nhận có mua xe của chị D, như vậy có đủ căn cứ xác định đây tài sản chung của bị cáo với chị H. Xét thấy bị cáo đã sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời, do đó cần tịch thu 1/2 giá trị chiếc xe để nộp vào ngân sách nhà nước và hoàn trả cho chị Nguyễn Thị H 1/2 giá trị còn lại của xe.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng, tuy nhiên mức đề nghị hình phạt chính đối với bị cáo là nặng, bởi lẽ khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo là 0,29 gam và bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các nội dung đề nghị khác là phù hợp với quy định pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo không đề nghị gì, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị được nhận lại chiếc xe máy. Xét thấy chiếc xe máy là tài sản chung của bị cáo và chị Nguyễn Thị H, bị cáo đã sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu được nhận lại xe của chị H.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/7/2019.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Heroine được niêm phong bằng bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Bề mặt phong bì ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong vụ án vụ Nguyễn Huy T có hành vi phạm tội về ma túy”. Phát hiện (thu giữ) ngày 23/7/2019 tại tổ y thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai và tổ x thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Tịch thu 1/2 giá trị chiếc xe mô tô Honda Future biển kiểm soát 24K3-2359, số khung Y214765, số máy JA O2E-0214805. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 1/2 giá trị còn lại của chiếc xe mô tô Honda Future biển kiểm soát 24K3-2359 nêu trên.

Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động Nokia TA 1034, máy cũ đã qua sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) của bị cáo Nguyễn Huy T để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ