vanban.org

Bản án 23/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thanh H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!TỈNH!ĐẮK!LẮK!
!
!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HS-PT
Ngày 23-01-2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!ĐẮK!LẮK!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Ông Y Thông Kbuôr.!

Các"Thẩm"phán:"Ông Trịnh Văn Toàn, ông Hoàng Kim Khánh

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23/01/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 432/2018/TLPT-HS ngày 18/12/2018 đối với bị cáo Trần Thị Thanh H về tội “Cố"ý"gây"thương"tích”,"do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2018/HSST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:!

Họ và tên:!Trần!Thị!Thanh!H,!sinh ngày 10/10/1971, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường Q, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: Đường K, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc L và bà Trần Thị T; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang tại ngoại - Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Thanh H:!!

1. Luật sư ông Đàm Quốc C – Công ty luật trách nhiệm hữu hạn CN, thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ: Đường Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

2. Luật sư ông Tạ Quang T1 – Văn phòng luật sư THT, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

* Người bị hại: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Xã DY, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

* Người làm chứng:

1

1. Anh Trần Thanh D, sinh năm 1980; địa chỉ: Xã E, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

2. Anh Mai Văn N, sinh năm 1980; địa chỉ: Xã EK, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

3. Chị Lương Thị M, sinh năm 1982; địa chỉ: Xã DY, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

4. Anh Lưu Trần Thiên P; sinh năm 1998; địa chỉ: Đường K, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.

5. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1969; địa chỉ: Đường G, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

*" Người" giám" định:" Ông Từ Công H1, địa chỉ: Đường L, phường TA, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt."

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:"

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn với nhau trong việc góp vốn kinh doanh trồng khoai lang tại khu vực xã DY, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/9/2017, Trần Thị Thanh H đi đến khu vực nhà đội của nông trường cao su DY thuộc xã DY, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk để gặp chị Trần Thị H1 (là chị em cùng cha khác mẹ với Trần Thị Thanh H). Tại đây, giữa H và chị H1 có lời qua tiếng lại với nhau rồi H dùng tay tát 02 cái vào mặt chị H1, nên hai bên giằng co với nhau. Trong lúc giằng co nhau H1 nói với H “em"có"bầu"mà"chị"cũng"đánh" em"à,"chị"ác"vừa"thôi” thì H nói lại “bầu"tao"cũng"đánh” rồi H dùng tay túm tóc chị H1. Lúc này, chị H1 dùng miệng cắn vào tay của H, thì H dùng vỏ quả sầu riêng ở gần đó đánh vào má bên phải của chị H1 gây thương tích. Đến ngày 11/9/2017 chị H1 đi khám tại Bệnh viện đa khoa huyện EH thì được chẩn đoán là thai 05 tuần có nhiều máu tụ sau nhau, đến ngày 29/10/2017 thì Bệnh viện đa khoa TH chẩn đoán thai bị chết lưu.

Bị cáo Trần Thị Thanh H không thừa nhận việc bị hại Trần Thị H1 nói mình có thai trước khi bị cáo dùng vỏ quả sầu riêng đánh vào má chị H1. Ngoài ra, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận pháp y thương tích số 1304/PY-TgT, ngày 01/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Trần Thị H1, bị thương vùng mặt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%; Vật tác động cứng, nhọn. Thai chết lưu khoảng 09 – 10 tuần, tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%.

Tại bản kết luận pháp y thương tích bổ sung số 520/PY-TgT, ngày 17/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Nạn nhân bị thai chết lưu khoảng 09 - 10 tuần, sau quá trình động thai, tụ máu nhiều sau đánh nhau, xảy ra sau chấn thương là phù hợp với khoa học y học.

2

Tại"bản"án"hình"sự"sơ"thẩm"số:"98/2018/HSST"ngày"02/11/2018"của"Tòa"án" nhân"dân"huyện"Ea"H’Leo,"tỉnh"Đắk"Lắk"quyết"định:""

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thanh H phạm tội “Cố"ý"gây"thương"tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 54; điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/11/2018, bị cáo Trần Thị Thanh H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm và không đồng ý với tội danh đã tuyên.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo H cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là chưa xem xét toàn diện tình tiết khách quan của vụ án và lời khai của người làm chứng mâu thuẫn đối nghịch nhau; Các tài liệu chứng cứ như Giấy chứng nhận thương tích không xác lập đúng quy định của pháp luật, bản kết luận giám định pháp y căn cứ vào hồ sơ bệnh án chưa có tại thời điểm giám định.

Người"bào"chữa"cho"bị"cáo"tranh"luận: Xét về hành vi, quá trình xảy ra xô sát bị cáo H chỉ dùng tay tát 02 cái vào mặt, sau đó do chị H1 cắn vào tay bị cáo nên bị cáo H mới dùng vỏ sầu riêng đánh 01 cái vào mặt chị H1, ngoài ra không có việc cào cấu, hay giằng xé, hoặc vật lộn gì nhau để có thể dẫn đến việc chị H1 bị “động"thai”. Mặt khác, không có căn cứ nào chứng minh bị cáo H biết chị H1 có thai trước khi bị đánh. Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì “Vỏ sầu riêng” không phải là hung khí nguy hiểm nên việc cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo H về tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm” và “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là không có căn cứ.

Về thủ tục tố tụng: Bệnh viện Đa khoa huyện EH cấp giấy chứng nhận thương tích, mặc dù chị H1 không điều trị, không có hồ sơ bệnh án lưu tại bệnh viện, nhưng lại căn cứ vào Phiếu kết quả siêu âm của Phòng khám đa khoa bác sỹ P1 (phòng khám tư nhân) để cấp giấy giấy chứng nhận thương tích là vi phạm quy định của pháp luật. Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tích của chị H1 là: “Vết"thương"vùng"mặt"7%,"vật"gây"ra"thương"tích"là"cứng,"nhọn."Thai" chết" lưu" 10" tuần" 10%," tổng" cộng" 17%”." Bản kết luận pháp y thương tích số 1034/PY-TgT ngày của Trung tâm pháp y tỉnh Đ được thực hiện vào ngày 01/11/2017 (không ghi giờ), cũng đúng là ngày chị H1 ra khỏi bệnh viện TH. Mặt khác, Trung tâm pháp y tỉnh Đ sử dụng hồ sơ số 55329/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện EH và hồ sơ nội trú của Bệnh viện đa khoa TH để làm căn cứ kết

3

luận giám định là không đúng. Bởi lẽ: Ngày 06/11/2017, Bệnh viện TH mới sao lục hồ sơ bệnh án theo yêu cầu của Trung tâm giám định pháp y nhưng Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã thực hiện việc giám định pháp y đối với chị H1 trước đó ngày 01/11/2017, khi chưa có hồ sơ bệnh án của chị H1. Bản kết luận pháp y bổ sung ngày 17/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ cũng căn cứ vào phiếu siêu âm của bác sỹ P1 và giấy chứng nhận thương tích của bệnh viện đa khoa huyện EH là các tài liệu được thực hiện không đúng quy định của pháp luật. Do đó, các Bản kết luận pháp y thương tích số 1034/PY-TgT ngày 01/11/2017 và Bản kết luận pháp y bổ sung ngày 17/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ là không có giá trị pháp lý.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phiên tòa không cho bị cáo được nói lời sau cùng.

Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo Trần Thị Thanh H không phạm tội.

Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định Tòa án nhân dân huyện Ea Hleo đã xét xử bị cáo Trần Thị Thanh H về tội “Cố"ý"gây"thương"tích” theo điểm a, d khoản 1, khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điểm a, c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, có một số vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc xác định tỷ lệ thương tích của người bị hại như phần trình bày của người bào chữa đã nêu mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2017/HSST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vỏ quả sầu riêng mà bị cáo dùng để gây thương tích cho chị Trần Thị H1 khi mới ăn xong, còn tươi là loại vật tương đối cứng, có nhiều gai sắc nhọn chứa đựng tính nguy hiểm cao, nếu tác động vào cơ thể có thể gây tổn hại đến sức khỏe và thực tế đã gây tổn hại cho sức khỏe của chị Trần Thị H1 là 07%;

Bản án sơ thẩm nhận định trước khi dùng miếng vỏ quả sầu riêng đánh vào má chị H1 bị cáo biết được chị H1 có thai nhưng vẫn cố ý thực hiện, dẫn đến chị H1 bị thai chết lưu là chưa có cơ sở vững chắc, bởi lẽ: Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của người làm chứng chị Lương Thị M và anh Mai Văn N cho rằng trước khi bị cáo dùng vỏ sầu riêng đánh vào mặt chị H1 thì chị H1 đã nói với bị cáo “Tôi có bầu mà chị cũng đánh” mà không xem xét lời khai của người làm chứng anh Trần Thanh D (là anh ruột của chị H1) khi tiến hành đối chất với anh N tại phiên tòa xác định anh D và anh N đứng cách bị cáo và bị hại khoảng 01m còn chị M đứng cách khoảng 4-5m; anh D và anh N là người trực tiếp can ngăn. Anh D khai sau khi bị cáo dùng vỏ sầu riêng đánh bị hại và được mọi

4

người can ngăn thì bị hại lấy xe đi và nói “Tôi có bầu mà chị cũng đánh” (Biên bản phiên tòa sơ thẩm - bút lục 166), đối với người làm chứng là bà M, Tòa án đã áp dụng biện pháp dẫn giải đến phiên tòa nhưng bà M đã đi khỏi địa phương, mặt khác bị cáo không thừa nhận mình biết việc chị H1 có thai. Chị H1 có thai 05 tuần nên không thể nhận biết bằng mắt thường nếu không có kết luận của cơ quan chuyên môn. Như vậy, chưa đủ căn cứ chứng minh bị cáo H biết chị H1 có thai trước khi gây thương tích cho chị H1, việc áp dụng tình tiết “Phạm tội đối với phụ nữ đang có thai” đối với bị cáo là chưa đủ căn cứ.

Việc cấp sơ thẩm xác định chị H1 bị thai chết lưu là do bị cáo H đánh, sau khi xem xét hồ sơ thì thấy: Việc ban hành bản kết luận pháp y thương tích trong hồ sơ vụ án không logic về thời gian, cụ thể: Tại bản kết luận pháp y thương tích số 1304/PY-TgT, ngày 01/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Trần Thị H1, bị thương vùng mặt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%; Vật tác động cứng, nhọn. Thai chết lưu khoảng 09 – 10 tuần, tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%. Nhưng hồ sơ sao trích lục bệnh án theo yêu cầu của Trung tâm giám định pháp y để làm căn cứ giám định pháp y được trích vào ngày 06/11/2017. Như vậy, Trung tâm giám định pháp tỉnh Đ đã tiến hành việc giám định khi không có hồ sơ bệnh án vì hồ sơ bệnh án có sau khi đã giám định được 05 ngày.

Hồ sơ vụ án thể hiện: “Hai"bên"xảy"ra"tranh"cãi,"H"dùng"tay"tát"vào"mặt" H1"02"cái,"trong"lúc"giằng"co,"H1"dùng"răng"cắn"vào"tay"H,"H"đã"lấy"một"vỏ"sầu" riêng"ở"gần"đó,"đánh"một"cái"trúng"vào"má"bên"phải"của"H1"làm"H1"bị"thương." Thấy"vậy"mọi"người"chạy"đến"can"ngăn"và"mọi"người"ra"về”. Không có việc xô đẩy, vật lộn hoặc có tác động ngoại lực khác từ phía bị cáo để có thể gây nên hậu quả"“động"thai” như kết luận pháp y ghi nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm bác sĩ Nguyễn Thị P1 là người trực tiếp làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận thương tích cho bị hại xác định bệnh viện cấp giấy chứng nhận thương tích cho bệnh nhân H1 (là người bị hại) căn cứ vào vết thương trên mặt, còn đối với vấn đề động thai bác sĩ P1 ghi theo kết quả siêu âm và xác định rằng không nhất thiết phải bị đánh mới động thai, người bình thường không va chạm vào đâu cũng có thể bị động thai (Biên bản phiên tòa sơ thẩm - bút lục 166). Tuy nhiên, tại kết quả siêu âm của Bệnh viện Đa khoa huyện EH đề ngày 31/10/2018 (Bút lục số 153) kết luận lâm sàng: Theo dõi thai bình thường; kết quả siêu âm thai: Trong lòng tử cung có hình ảnh một túi thai GS=11mm. Trong túi thai chưa thấy phôi và Yolksac. Hai buồng trứng không u, không nang, dịch ổ bụng âm tính. Kết luận “Một túi thai trong lòng tử cung khoảng 4-5 tuần, ít dịch lòng đoạn đáy tử cung”. Không có kết luận bệnh nhân bị động thai. Điều này mâu thuẫn với giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa huyện EH. Giấy chứng nhận thương tích này lại phù hợp với kết quả siêu âm của Phòng khám đa khoa bác sỹ P1, đây là phòng khám tư nhân, việc căn cứ vào kết quả này sẽ không đảm bảo tính khách quan. Bác sĩ P1 cho rằng giấy chứng nhận thương tích ghi theo kết quả siêu âm của bệnh viện và đã cung cấp cho Cơ quan điều tra, bác sĩ P1 xác nhận thương tích không có bệnh án. Như vậy, chưa đủ cơ sở khẳng định người bị hại chị Trần Thị H1 bị động thai và thai chết lưu là hậu quả do hành vi của bị

5

cáo gây ra. Nên việc cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là chưa đủ căn cứ.

Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố theo điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.

Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thanh H.

[3] Về án phí: Do hủy bản án nên bị cáo Trần Thị Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2017/HSST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk để điều tra lại theo thủ tục chung.

[2] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

!!Nơi nhận: !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM -!TANDCC tại Đà Nẵng;

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- Vụ GĐKT I – TANDTC;

- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);

(Đã ký)

- TAND huyện Ea Hleo;

- Công an huyện Ea Hleo;

- VKSND huyện Ea Hleo;

- Sở Tư Pháp;

- THA hình sự huyện Ea Hleo;

Y!Thông!Kbuôr

- Chi cục THADS huyện EH;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

!!!!!!!!!!!!!!!!!!

6

Cỡ chữ