- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn giữa Đỗ Thị Thu Y và Bùi Trọng Phi L"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HNST Ngày: 28/3/2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Minh Dũng
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký Tòa án: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 647/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số 24 /2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu Y, sinh năm 1993. ( Có mặt)
Bị đơn:
Ông Bùi Trọng Phi L, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ: D6, khu 1, Đại học Cần Thơ, đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu Y cho rằng: Bà và ông Bùi Trọng Phi L đã tiến đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống thời gian đầu khoảng năm năm vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng từ năm 2016 ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã ly thân từ 2016 cho đến nay. Sau nhiều lần suy nghĩ và tìm mọi biện pháp để hàn gắn nhưng không đạt được kết quả. Nay bà Ý xác định không thể hàn gắn với chồng là ông Long nên có đơn yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Đỗ Anh Khoa ( Nam), sinh ngày 19/4/2014. Từ khi ly thân đến nay do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Long cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Bùi Trọng Phi L trong suốt quá trình từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ qua người thân thích của ông Long ký nhận thông báo thụ lý, thông báo phiên họp, hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần, như ông vẫn vắng mặt, nên không thu thập được lời khai.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu Y cho rằng không còn tình cảm với ông Bùi Trọng Phi L, do ông Long không chăm lo gì cho vợ, con, nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi Đỗ Anh Khoa, không yêu cầu ông Long cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu Y khởi kiện xin ly hôn với ông Bùi Trọng Phi L nên tranh chấp giữa các đương sự là loại “Tranh chấp ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với bị đơn ông Bùi Trọng Phi L căn cứ địa chỉ trong sổ hộ khẩu mà nguyên đơn cung cấp và qua các giấy yêu cầu xác minh số 1269/GYC.TA, ngày 02/10/2018, thì đều xác định ông Long hiện còn đang cư trú tại D6, khu 1, Đại học Cần Thơ, đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, nhưng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ qua người thân thích ký nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Long theo quy định.
[3] Xét về yêu cầu xin ly hôn: Bà Đỗ Thị Thu Y và ông Bùi Trọng Phi L bắt đầu chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/7/2013, nên được pháp luật công nhận ông, bà là vợ chồng. Quá trình chung sống theo bà Ý cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn trong tình cảm, nên thường xuyên cãi vã và dẫn đến xin ly hôn.
Xét thấy với những mâu thuẫn của bà Ý, ông Long dẫn đến yêu cầu xin ly hôn như bà trình bày, thời gian cũng từ năm 2016 cho đến nay, nhưng ông, bà cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến phiên tòa hôm nay, nhưng ông Long vẫn vắng mặt không lý do, chứng tỏ ông không còn quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân này. Nên xét thấy mâu thuẫn của ông, bà đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này, thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó có căn cứ chấp nhận cho bà Ý và ông Long được ly hôn với nhau.
[4]Xét về yêu cầu nuôi con chung :
Xét việc giao con chưa thanh niên cho vợ hoặc chồng nuôi dưỡng khi ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Xét thấy từ khi bà Ý ông Long ly thân cho đến nay, bà Ý đang trực tiếp nuôi con chung. Qua trình bày bà Ý cho rằng hiện là chủ tiệm làm tóc cũng có nghề nghiệp ổn định để nuôi cháu. Đối với ông Long trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông không có mặt, cũng không thể hiện ý kiến của mình về việc có yêu cầu xin nuôi con chung hay không. Do đó với những căn cứ nêu trên, xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Bùi Đỗ Anh Khoa về điều kiện sinh sống, học tập sau này và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu về thể chất và tinh thần, tránh bị xáo trộn về tâm sinh lý, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Khoa cho bà Ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp, đồng thời ghi nhận việc bà Ý không yêu cầu ông Long cấp dưỡng nuôi con.
[5]Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
[6]Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 4; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a
Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình
-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu Y
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Đỗ Thị Thu Y được ly hôn với ông Bùi Trọng Phi L.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Bùi Đỗ Anh Khoa (Nam), sinh 19/4/2014. Khi ly hôn giao cho bà Đỗ Thị Thu Y tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Bùi Trọng Phi L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho ông Bùi Trọng Phi L, không ai được quyền ngăn cản và có quyền xin thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.
- Về tài sản chung, nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình : Bà Đỗ Thị Thu Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà Ý đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001935, ngày 17/10/2018 thành án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng có trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| - Các đương sự; - VKSND Q. Ninh Kiều; - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều; - UBND Phường nơi ĐKKH - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa BÙI XUÂN ÁNH |