vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 24/10/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đức N, sinh ngày 02/7/2005 và Nguyễn Thị Hà P, sinh ngày 13/8/2007cho chị Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. nh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Hà Ph mỗi tháng 2.000.000đ ng, kể t thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật cho đến… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Loan-Đức"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 10- 2019
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương huyền

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài và bà Phan Thị Minh Tuyết

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 46/2019/TLST - HNGĐ, ngày 14/8/2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST - HNGĐ, ngày 20/9/2019 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 09/2019/TB-TA ngày 14/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ch Lê Th L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố H (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn V n Đ, sinh năm 1979; Xóm T, xã T, thành phố H Hiện đang lao động tại Pháp (V ng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại h sơ vụ án, chị Lê Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn vào ngày 07/7/2004 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố H. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ ch ng về sống chung cùng bố mẹ ch ng tại xã T, cuộc sống chung vợ ch ng hòa thuận, hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn và theo thời gian ngày càng gay g t. Nguyên nhân do tính tình không hợp,quan điểm sống giữa hai người khác nhau, vợ ch ng thường xuyên có lời nói xúc phạm lẫn nhau. Tháng 3/2019, anh Đức đi lao động xuất khẩu ở Pháp và c ng t đó đến nay vợ ch ng không còn liên lạc và chị L không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ ch ng không còn, đời sống chung vợ ch ng không thể hàn g n, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị L làm đơn yêu c u Toà án giải quyết cho vợ ch ng được ly hôn.

Về quan hệ con chung: Quá trình sống chung, vợ ch ng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức N, sinh ngày 02/7/2005 và Nguyễn Thị Hà P, sinh ngày 13/8/2007. Hiện cả hai cháu đang sống cùng với chị L tại xã T, thành phố H. Nguyện vọng của chị Lê Thị L là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con và yêu c u anh Đ đóng góp nuôi cháu Nguyễn Thị Hà P mỗi tháng 2.000.000đ ng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu c u Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị L. Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ; về con chung: giao cháu Nguyễn Đức Ng và Nguyễn Thị Hà P cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ có trách nhiệm đóng góp nuôi cháu P mỗi tháng 2.000.000đ ng; về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu c u giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng:

nh Nguyễn Văn Đ hiện đang lao động tại Pháp, không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 14007/QLXNC-P5, ngày 28/8/2019 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận thông tin: nh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 15/6/1979 khai địa chỉ ở xóm T, xã T, TP H đã xuất nhập cảnh 03 l n, xuất cảnh g n nhất ngày 21/3/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Toà án đã tiến hành xác minh qua người thân của anh Đ là ông Nguyễn Văn K (là bố đẻ anh Đ). Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/9/2019 , ông Khương cho biết: Anh Nguyễn Văn Đ hiện nay đang lao động tại Pháp có liên lạc với gia đình qua điện thoại, biết việc chị Lê Thị L làm đơn yêu c u Toà án giải quyết ly hôn, anh Nguyễn Văn Đ thông tin cho gia đình biết vợ ch ng anh có trục trặc, mâu thuẫn, nhưng hiện nay anh Đức làm ăn ở xa nên tình cảm vợ ch ng khó hàn g n được và anh đ ng ý ly hôn với chị L. Tuy nhiên, anh Đ không nói địa chỉ cụ thể của anh tại Pháp nên ông K c ng không thể cung cấp được địa chỉ của anh Đ cho Tòa án. Ngoài ra, ông K c ng có đề nghị tòa án giao các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua gia đình ông và ông cam đoan sẽ gửi và thông tin đ y đủ cho anh Đ biết.

Căn cứ công văn số 253/T NDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án tiến hành xét xử v ng mặt anh Nguyễn Văn Đ theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn Đ đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 07/7/2004 tại UBND phường T, thành phố H. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ ch ng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ ch ng không hợp nhau, không tìm thấy tiếng nói chung, do tính tình, quan điểm sống không hòa hợp, vợ ch ng thường xuyên có lời nói xúc phạm và không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay anh Đ đi lao động ở Pháp và đến nay vợ ch ng không còn liên lạc với nhau. Theo chị L thì mâu thuẫn đã tr m trọng, vợ ch ng không còn tình cảm với nhau, không còn yêu thương nhau. Hiện tại, cả hai không liên lạc với nhau, chị L yêu c u ly hôn và anh Đ c ng nhất trí ly hôn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng hôn nhân giữa chị L và anh Đ không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã tr m trọng, vợ ch ng không thương yêu, quan tâm, giúp đỡ nhau. Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, c n chấp nhận yêu c u ly hôn của chị Lê Thị L. Xử cho Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Quan hệ con chung: Vợ ch ng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Ng, sinh ngày 02/7/2005 và Nguyễn Thị Hà P, sinh ngày 13/8/2007. Hiện cả hai cháu đang sống cùng với chị L tại xã T, thành phố H và chị L c ng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Xét thấy hiện nay anh Đ làm ăn ở xa, không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng các con và các cháu c ng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó c n chấp nhận yêu c u giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và buộc anh Đ đóng góp nuôi cháu Nguyễn Thị Hà P mỗi tháng 2.000.000đ ng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu c u nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chấp nhận ý kiến của chị Lê Thị L về việc chị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; các Điều 28, 37, 227, 273, 479, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị L. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đức N, sinh ngày 02/7/2005 và Nguyễn Thị Hà P, sinh ngày 13/8/2007cho chị Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. nh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Hà Ph mỗi tháng 2.000.000đ ng, kể t thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu P tròn 18 tuổi (hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con). nh Đ có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Buộc chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đ ng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ ng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được tr vào số tiền 300.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 001332 ngày 14/8/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị L còn phải nộp 300.000đ ng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ