- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thùy D - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2019 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Pháp;
Bà Phan Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm: 1993;
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1986;
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19/11/2018, bản tự khai, nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D trình bày: Nguyên đơn và bị đơn Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, đến năm 2015 mâu thuẫn càng trầm trọng. Hai người đã sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Bảo C, sinh ngày 27/10/2014, hiện đang do nguyên đơn nuôi dưỡng. Ly hôn, nguyên đơn yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D và bị đơn Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp; đến năm 2015, mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay nhưng vẫn không thể hàn gắn được tình cảm. Xét thấy, hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Bảo C, sinh ngày 27/10/2014. Xét thấy, cháu C còn nhỏ và lâu nay ở với mẹ nên nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con là phù hợp và đúng quy định tại Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo C, sinh ngày 27/10/2014 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số AA/2015/0010737 ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã H; - VKSND huyện Tây Hòa; - Chi cục THADS huyện Tây Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Khánh Thoa |