vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị Phương T và anh Phùng Đoài V.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. Về án phí: Chị Lường Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 24/4/2019 theo biên lai số AG/2010/ 00092610. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị Phương T và Phùng Đoài V ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị Phương T và anh Phùng Đoài V.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 55 luật hôn nhân gia đình công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST
Ngày 17 tháng 6 năm 2019
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình“

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Đặng Thị Minh Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2019. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 198/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2019, thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 01/2019/TB-TA, ngày 29/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị Phương T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Yên Bình, Tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Anh Phùng Đoài V, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

Chị T xin vắng mặt, anh V có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lường Thị Phương T trình bày: Chị và anh V kết hôn năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn chung sống tại thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn ban đầu, sau đó vì điều kiện công việc, chị phải đi làm ăn xa nhà. Chính vì việc vợ chồng không sống ngần nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị không còn tin tưởng ở anh V. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đầu tháng 4/2019 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh V vẫn đến quan tâm, động viên để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Đoài V.

Con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị T xác nhận không có.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Phùng Đoài V trình bầy: Về điều kiện, thời gian kết hôn đúng như chị T trình bầy. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do hai người không sống ngần nhau dẫn đến hiểu lầm. Đầu tháng 4/2019 anh và chị T đã sống ly thân, chị T về nhà mẹ đẻ sống, anh vẫn đến nhà mẹ đẻ chị T quan tâm, động viên mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T không đồng ý đoàn tụ. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, tha thiết mong muốn đoàn tụ, nếu chị T cương quyết xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh V cũng xác nhận không có.

Tại phiên tòa: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi nghe công bố lời khai của chị T anh V đồng ý ly hôn.

* Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì có công văn không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, anh Phùng Đoài V có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã C, huyện Ba Vì nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lường Thị Phương T có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/7/2018, hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn ban đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không chung quan điểm, không tin tưởng nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hai anh chị đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2019 đến nay, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm. Tại bản khai anh V đồng ý ly hôn, khi Tòa án tiến hành hòa giải anh V thay đổi quan điểm không đồng ý ly hôn nhưng không có những biện pháp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa anh V đồng ý ly hôn căn cứ điều 55 luật hôn nhân gia đình công nhận thuận tình ly hôn cho chị T và anh V.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Lường Thị Phương T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271, 273, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 25, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội. Xử:

1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị Phương T và anh Phùng Đoài V.

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí: Chị Lường Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 24/4/2019 theo biên lai số AG/2010/ 00092610.

4. Quyền kháng cáo: Anh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ