vanban.org

Bản án 23/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 19/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Trung H; Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự: "Mua bán trái phép chất ma túy" - Bị cáo Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn Thanh Hùng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Trung H; Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HSST
Ngày: 19/3/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hùng Bích.

Bà Nguyễn Thị Tường Vi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2018/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/6/1988, tại Long Xuyên, An Giang; Nơi đăng ký HKTT: số 20 đường Trần Bình Trọng, khóm Đông An 6, phường Mỹ X, Tp.Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không. Học lực: 08/12; Cha: Nguyễn Trung B, sinh năm 1963. Mẹ: Phan Thị S, sinh năm 1963. Bị cáo sống chung như vợ chồng với Võ Kim L, sinh năm 1988. Có 02 con, lớn sinh năm 2005 và nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/8/2017 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983, tại Chợ Mới, An Giang; Nơi đăng ký HKTT: số 15, ấp Long Phú, xã Long Giang, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Học lực: 12/12; Cha: Nguyễn Ngọc M (chết); Mẹ: Trương Thị Á, sinh năm 1951; Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/8/2017 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Ngọc Nam B, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 23/24, khóm Hòa Thạnh, phường Mỹ T, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang - Vắng mặt.

Trang 1

2. Quách Anh K, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 58 đường Chu Văn An, khóm 3, phường Mỹ L, Tp.Long Xuyên, tỉnh An Giang - Vắng mặt

3. Võ Quốc T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: 61/2H, khóm Mỹ Phú, phường Mỹ Q, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

4. Trần Văn P, sinh năm 1991; Nơi cư trú: 537/4A, khóm Tây Khánh 3, phường Mỹ H, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

5. Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Ấp Tân Thạnh, xã Tân Long, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp – Vắng mặt.

6. Bùi Văn H, sinh năm 1996; Nơi cư trú: 180/3, khóm Đông Thịnh 8, phường Mỹ P, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

7. Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp Thạnh phú, xã Bình Thạnh, huyện Châu T, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

8. Huỳnh T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: 137/5, khóm Đông Thịnh 5, phường Mỹ P, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Có mặt.

9. Nguyễn Kim Qn, sinh năm 1993; Nơi cư trú: 07 đường Bạch Đằng, khóm 2, phường Mỹ L, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

10. Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1998; Nơi cư trú: 331/17, khóm Bình khánh 7, phường Bình K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Có mặt.

11. Huỳnh Xuân L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: 145C/8, khóm Bình Thới 2, phường Bình K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 6/2017 đến ngày 25/8/2017, Nguyễn Trung H nhiều lần mua ma túy đá của Nguyễn Thanh Hg và T (không rõ họ, địa chỉ), mỗi lần mua 01 gói với giá từ 300.000đ đến 8.400.000đ. H lấy ra một phần để sử dụng, phần còn lại chia thành nhiều gói nhỏ bán cho Võ Quốc T, Lê Ngọc Nam B, Trần Văn P, Quách Anh K, Huy L, Tư Hu, M không rõ họ tên, địa chỉ với giá từ 100.000 đồng đến 1.400.000 đồng/gói. Khi cần mua ma túy đá, những người này gọi điện thoại cho H thỏa thuận số lượng, giá cả, địa điểm mua bán. Hiếu thường hẹn đến khu vực quán cà phê Hoa Sứ, nhà nghỉ Anh Đào 2, phường Mỹ P để giao ma túy và nhận tiền.

Khoảng 00 giờ ngày 25/8/2017, H mua của Nguyễn Thanh H 01 gói ma túy đá với giá 1.200.000 đồng tại phòng 301 nhà nghỉ Anh Đào 2, phường Mỹ Phước. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 67M8-7057 chở Lê Thị Cẩm T đến trước nhà trọ Nhất Phương 2 thuộc tổ 4, khóm Tây Khánh 4, phường Mỹ H, thành phố Long Xuyên thì bị Công an thành phố Long Xuyên kiểm tra hành chính phát hiện 01 gói ma túy trong túi quần bên trái của H nên đã giao cho

Trang 2 Công an phường Mỹ H lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang.

Đến 19 giờ ngày 25/8/2017, Nguyễn Thanh H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên bắt khẩn cấp.

Qua điều tra, H khai từ đầu tháng 8/2017 đến ngày 25/8/2017, H nhiều lần mua ma túy đá của K không rõ họ, địa chỉ, mỗi lần 01 gói với giá từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng. H lấy ra một phần sử dụng, phần còn lại chia thành nhiều gói nhỏ bán lại cho Nguyễn Trung H, Lê Ngọc Nam B, T, M không rõ họ tên, địa chỉ. Mỗi lần H bán 01 gói với giá từ 150.000 đồng đến 1.200.000 đồng. Khi cần mua ma túy đá, người mua điện thoại cho H để thỏa thuận số lượng, giá cả và địa điểm mua bán. H thường hẹn đến khu vực quán cà phê Hoa Sứ, nhà nghỉ Anh Đào 2, phường Mỹ P, để giao ma túy đá và nhận tiền.

Kết luận giám định số 371/KLGT-PC54 ngày 31/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H, Lê Thị Cẩm T, Trương Thành L, Trần Thanh H gửi giám định là ma túy (loại Methamphetamine), có trọng lượng: 1,0954 gam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Ngọc Nam B, Quách Anh Ka, Võ Quốc T, Trần Văn P, Lê Thị Cẩm T khai đã nhiều lần mua ma túy đá của Nguyễn Trung H và Nguyễn Thanh H như nội dung vụ án đã nêu. Riêng Lê Thị Cẩm T khai đã nhiều lần đi cùng với H mua ma túy đá của Nguyễn Thanh H để sử dụng, T không biết việc H mua ma túy để bán lại. Bùi Văn H, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Kim Q khai đã nhiều lần sử dụng chung ma túy đá với H và H.

Cáo trạng số: 06/VKS-HS ngày 17/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang truy tố bị cáo: Nguyễn Trung H và Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 08 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

-Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999: Buộc mỗi bị cáo nộp phạt từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ nộp Ngân sách Nhà nước.

Trang 3

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm đề vụ số 371/KLGT-PC54 ngày 31/8/2017; 01 cân điện tử hiệu Amput đã qua sử dụng; 01 bình gas mini màu đen; 01 quẹt gas mà đen; 01 bình nhựa có nắp đậy màu vàng; 01 cây đèn khò màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cây dao tự chế bằng kim loại; 01 cây dao bấm bằng kim loại màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 02 đoạn ống nhựa màu đen; 03 đoạn ống nhựa màu xanh.

Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 356017082181144, Số IMEI 2: 356017082181151, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67M8 – 7057, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số IMEI 1: 301014154274119, số IMEI 2: 301014154274127, có 02 sim 0977515250; 01202898065 đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nguyễn Trung H: 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung Hiếu.

Trả lại cho Bùi Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen cảm ứng, số IMEI: 354467/07/330126/2, số IMEI: 354468/07/330126/0 có gắn sim số 01267809156 đã qua sử dụng.

Trả lại cho Huỳnh T: 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số 0947091297.

Trả lại cho Lê Ngọc Nam B: 01 điện thoại di động hiệu Wikom màu đen cảm ứng, số IMEI: 351577071415345, số IMEI: 351577071455648 có sim số 01256852654; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 354868/02101655/7, không có sim đã qua sử dụng.

Trả lại cho Lê Thị Cẩm T: 01 điện thoại di động Nokia, màu xanh, số IMEI: 359972/05/861767/8 đã qua sử dụng cùng với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Trung H, Nguyễn Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như đại diệnViện kiểm sát đã nêu. Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người

Trang 4 tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Trung H thừa nhận: Từ tháng 6/2017 đến ngày 25/8/2017, H đã nhiều lần mua ma túy đá của Nguyễn Thanh H và T (không rõ họ, địa chỉ), mỗi lần mua 01 gói với giá từ 300.000 đồng đến 8.400.000 đồng đem về chia nhỏ lại. H lấy ra một phần để sử dụng, phần còn lại bán cho Võ Quốc T, Lê Ngọc Nam B, Trần Văn P, Quách Anh K, Huy L, Tư H, M không rõ họ tên, địa chỉ với giá từ 100.000 đồng đến 1.400.000 đồng/gói để hưởng lợi.

Bị cáo Nguyễn Thanh H thừa nhận: Từ tháng 8/2017 đến ngày 25/8/2017, H nhiều lần mua ma túy đá của K không rõ họ, địa chỉ, mỗi lần 01 gói với giá từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng. H lấy ra một phần sử dụng, phần còn lại chia thành nhiều gói nhỏ bán lại cho Nguyễn Trung H, Lê Ngọc Nam B, Thịnh, M không rõ họ tên, địa chỉ. Mỗi lần H bán 01 gói với giá từ 150.000 đồng đến 1.200.000 đồng để hưởng lợi

Lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Quốc T, Lê Ngọc Nam B, Trần Văn P, Quách Anh K, Huy L, M; Biên bản nhận dạng; Kết luận giám định số 371/KLGT-PC54 ngày 31/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang và các chứng khác thu thập được trong quá trình điều tra.

Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung H và Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố các bị cáo Nguyễn Trung H và Nguyễn Thanh H là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nhân thân, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

Ma túy là chất gây nghiện cực kỳ nguy hiểm bởi nó hủy hoại sức khỏe và trí lực người sử dụng, làm mất khả năng lao động, rối loạn hành vi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, nó còn làm tiêu tán tài sản, gây kiệt quệ nền kinh tế, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội.

Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, khỏe mạnh nhận thức được hành vi của mình. Lẽ ra các bị cáo phải biết cố gắng lao động để tạo thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình và sống có ích cho xã hội. Nhưng các bị cáo thì ngược lại, thích chơi bời, hưởng thu rồi sa vào nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Bản thân các bị cáo nghiện ma túy hơn ai hết bị cáo biết rõ tác hại của ma túy như thế nào đối với bản thân, lẽ ra bị cáo phải biết từ bỏ ma túy và vận động mọi người tránh xa ma túy, thế nhưng các bị cáo lại bán các chất ma túy cho người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện. Tuy bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trong thời gian ngắn nhưng hậu quả gây ra cho xã hội là không nhỏ và bị cáo cũng hưởng lợi từ việc phạm tội là không ít. Do đó cần xử phạt các bị cáo

Trang 5 một mức án nghiêm tướng xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên có xem xét: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và tự thú nhận những lần phạm tội trước. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với bị cáo Hiếu co cha là thương binh 2/4 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Trong vụ án này các bị cáo H , H phạm tội độc lập nhưng bị cáo H ngoài việc mua bán ma túy cho các con nghiện khác thì bị cáo cũng nhiều lần bán ma túy cho H để H bán lại cho các con nghiện nên mức hình phạt của H phải cao hơn bị cáo H.

Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm ổn định nên không có tài sản để thi hành các khoản tiền phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên có thu giữ vật chứng chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên sẽ đượ xử lý như sau:

- 01 hộp niêm đề vụ số 371/KLGT-PC54 ngày 31/8/2017 xác định là ma túy (loại Methamphetamine) vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy cùng với 01 cân điện tử hiệu Amput đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 02 đoạn ống nhựa màu đen; 03 đoạn ống nhựa màu xanh; 01 bình gas mini màu đen; 01 quẹt gas mà đen; 01 bình nhựa có nắp đậy màu vàng; 01 cây đèn khò màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cây dao tự chế bằng kim loại; 01 cây dao bấm bằng kim loại màu trắng là tang vật trong vụ án đã không còn giá trị sử dụng.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 356017082181144, Số IMEI 2: 356017082181151 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số IMEI 1: 301014154274119, số IMEI 2: 301014154274127, có 02 sim 0977515250; 01202898065 đã qua sử dụng là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mãi sung Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 xe mô tô biển số 67M8 – 7057, đã qua sử dụng bị cáo H cho rằng xe do bị cáo thuê của một người tên B không rõ, họ, địa chỉ và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên cũng đã đăng thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay đã quá thời gian quy định nhưng không có người đến nhận nên xe mô tô trên sẽ được phát mãi sung Ngân sách Nhà nước.

- 01 điện thoại di động Nokia, màu xanh, số IMEI: 359972/05/861767/8 đã qua sử dụng cùng với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) là của chị Nguyễn Thị Cẩm T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho chị Thi; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen cảm ứng, có gắn sim số 01267809156 đã qua sử dụng của Bùi Văn H; 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số

Trang 6 0947091297 của Huỳnh T; 01 điện thoại di động hiệu Wikom màu đen cảm ứng có sim số 01256852654 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, không sim đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc Nam B xác định không liên quan đến vụ án sẽ được trả lại cho H, T và B; trả lại cho bị cáo H 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung H.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41-NQ-QHH ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

[1] Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Trung H; Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2017.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41-NQ-QHH ngày 20/6/2017 của Quốc Hội

[3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H

08 (tám) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2017.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm đề vụ số 371/KLGT-PC54 ngày 31/8/2017; 01 cân điện tử hiệu Amput đã qua sử dụng; 01 bình gas mini màu đen; 01 quẹt gas mà đen; 01 bình nhựa có nắp đậy màu vàng; 01 cây đèn khò màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cây dao tự chế bằng kim loại; 01 cây dao bấm bằng kim loại màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 02 đoạn ống nhựa màu đen; 03 đoạn ống nhựa màu xanh.

Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 356017082181144, Số IMEI 2: 356017082181151, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67M8 – 7057, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số IMEI 1: 301014154274119, số IMEI 2: 301014154274127, có 02 sim 0977515250; 01202898065 đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nguyễn Trung H: 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung H.

Trả lại cho Bùi Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen cảm ứng, số IMEI: 354467/07/330126/2, số IMEI: 354468/07/330126/0 có gắn sim số 01267809156 đã qua sử dụng.

Trang 7

Trả lại cho Huỳnh T: 01 điện thoại di động Nokia màu đen có gắn sim số 0947091297.

Trả lại cho Lê Ngọc Nam B: 01 điện thoại di động hiệu Wikom màu đen cảm ứng, số IMEI: 351577071415345, số IMEI: 351577071455648 có sim số 01256852654; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 354868/02101655/7, không có sim đã qua sử dụng.

Trả lại cho Lê Thị Cẩm T: 01 điện thoại di động Nokia, màu xanh, số IMEI: 359972/05/861767/8 đã qua sử dụng cùng với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/12/2017)

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo H, H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ