vanban.org

Bản án 23/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 18/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn VănD1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 26/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Duy tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn VănD1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HSST
Ngày: 18/5/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Quý;

2. Ông Trần Ngo ̣c Lung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-HS ngày 04/5/2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D1 - sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn CD1, xã TL1, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hoá : 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thi ̣ B2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2018 đến ngày 01/02/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh HN, có mặt.

- Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn CD1, xã TL1, huyện TL, tỉnh HN; Có mặt.

- Ngườ i là m chứ ng : Ông Sử Quốc L1, sinh năm 1956; nơi cư trú : Thôn NT1, xã TT1, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam; Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/01/2018, Nguyễn Văn D1 gọi điện thoại cho H1, sinh năm 1991, ở thôn C1, xã LS1, huyện TL, tỉnh HN (là bạn nghiện) để hỏi mua ma túy. D1 nói với H1: “Anh để cho em cái hai trăm”, ý D1 hỏi mua ma túy của H1 với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). H1 trả lời “Ừ, đợi tao ở cống T1, tao đang sửa xe tí tao về”. Sau khi nói chuyện với H1, D1 điều khiển xe mô tô BKS 90H3 - 0446 xuống cống T1, xã TH1, huyện TL đợi thì H1 gọi điện thoại lại bảo D1 đến thôn NT1, xã TT1, huyện TL, tỉnh HN. D1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến điểm hẹn thì gặp H1 đang đứng ở ven đường thuộc thôn NT1, xã TT1, huyện TL, tỉnh HN. Gặp H1, D1 đưa cho H1 số tiền 185.000đ và nói “Em xin 15.000đ”, H1 đồng ý cầm tiền và chỉ D1 ra cạnh bụi chuối gần đó lấy gói ma túy H1 để trong bao thuốc lá Thăng Long đặt trên hòn gạch xỉ. D1 đi theo hướng dẫn của H1 ra lấy bao thuốc lá Thăng Long, thấy tại vị trí phần vỏ và lớp túi nilon có gói ma túy, D1 cầm bao thuốc lá Thăng Long cùng gói ma túy ở tay phải và lên xe đi về, trên đường về D1 bị Tổ công tác Công an huyện TL phối hợp với Công an xã TT1 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tài sản, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là Heroine) để tại vị trí kẹp giữa phần vỏ và lớp túi nilon của bao thuốc lá Thăng Long, được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01; 02 (hai) bơm tiêm sử dụng một lần nhãn hiệu Vinahankook loại 3ml/cc; 02 (hai) lọ Novocain 3% đều chưa qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng đen đã cũ; số tiền 215.000đ (Hai trăm mười lăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GIGI màu đỏ đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVES màu đen bạc, BKS 90H3 - 0446.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn D1, Cơ quan điều tra không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 26/ PC54-MT ngày 29/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh HN, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng: 0,148g (Không phẩy một trăm bốn mươi tám gam) loại Heroine.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn D1 khai nhận: Số Heroine trên D1 mua của một người nam giới tên là H1, sinh năm 1991, trú tại thôn C1, xã LS1, huyện TL, tỉnh HN. Xác minh tại xã LS1, huyện TL xác định trên địa bàn thôn C1 không có ai tên là H1, sinh năm 1991. Ngoài lời khai của D1 không có tài liệu, chứng cứ nào khác, vì vậy không có căn cứ để xác minh làm rõ nguồn gốc số Heroine đã thu giữ.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSTL ngày 11/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Văn D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn D1 từ 18 đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và đề nghị xử lý vật chứng vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tu ̣ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra , Nguyễn Văn D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 26/01/2018 tại thôn NT1, xã TT1, huyện TL, tỉnh HN, Nguyễn Văn D1 đang tàng trữ trái phép một gói ma túy có khối lượng 0,148g (Không phẩy một trăm bốn mươi tám gam), loại Heroine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần ra một bản án với mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong lượng hình cũng xem xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết liên quan: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số Heroine hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ và 02 (hai) bơm tiêm sử dụng một lần nhãn hiệu Vinahankook loại 3ml/cc, 02 (hai) lọ Novocain 3% mục đích để sử dụng ma túy, nên tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng đen đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn D1, quá trình điều tra xác định D1 đã dùng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Số tiền 215.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIGI màu đỏ đen là tài sản hợp pháp của D1, không liên quan đến tội phạm, xem xét trả lại cho bị cáo.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVES màu đen bạc , BKS 90H3 - 0446 thu giữ của Nguyễn Văn D1. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Bắc, sinh năm 1966, trú tại thôn Cẩm Du, xã TL1, huyện TL, tỉnh HN (là mẹ đẻ Nguyễn Văn D1). Ngày 26/01/2018, bà Bắc đi làm để xe mô tô ở nhà, D1 đã lấy chiếc xe để đi mua ma túy thì bị bắt bà Bắc không biết. Vì vậy xem xét trả lại chiếc xe trên cho bà Bắc là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn VănD1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 26/01/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng Heroine hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 26/PC54-MT ghi mẫu vật hoàn trả QT01; 02 (hai) bơm tiêm sử dụng một lần nhãn hiệu Vinahankook loại 3ml/cc; 02 (hai) lọ Novocain 3%.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng đen đã cũ.

- Trả lại cho Nguyễn Văn D1 số tiền 215.000đ (Hai trăm mười lăm nghìn đồng) và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIGI màu đỏ đen, nhưng tiếp tục tạm giữ tiền và tài sản đã tuyên trả cho bị cáo để đảm bảo thi hành án dân sự.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị B2 chiếc xe máy nhãn hiệu WAVES màu đen bạc, BKS 90H3 - 0446.

(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện TL và Ủy nhiệm chi số 13 lập ngày 12/4/2018 tại Kho bạc Nhà nước huyện TL).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn VănD1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ