vanban.org

Bản án 23/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 06/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/11/2018. Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân phường BN, thị xã TA, tỉnh Bình Dương có trách nhiệm giám sát, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội quy phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HS-ST
Ngày 06 – 11 – 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Minh Đức.

2. Bà Võ Hân Hoan.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Quốc Huy, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Giang Tấn Sỹ, kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST-HS ngày 22/10/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1969, tại Số A38, khu phố BĐ, phường BN, thị xã TA, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Tài xế; con ông Nguyễn Văn Kh (chết) và bà Nguyễn Thị M (chết); Vợ Đỗ Thị V (đã ly thân); có hai con, lớn nhất 21 tuổi, nhỏ nhất 17 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị khởi tố vào ngày 10/8/2018 và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (Bị cáo B có mặt tại phiên tòa).

- Đại diện hợp pháp bị hại Huỳnh Thị Ph:

1/ Bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1943. (Mẹ bà Ph)

2/ Anh Nguyễn Thạnh T, sinh năm 1989. (Con bà Ph)

3/ Chị Nguyễn Thị Bích Tr, sinh năm 1998. (Con bà Ph)

Đại diện ủy quyền của bà Ch, chị Tr là anh Nguyễn Thạnh T, sinh năm 1989. (Anh t có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp MH, xã MH, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1956. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm T, phường H, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

2/ Bà Hồng Kim C, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp AT, xã AMB, huyện UMT, tỉnh Kiên Giang.

- Những người tham gia tố tụng khác (nguời làm chứng):

1/ Ông Lâm Văn D, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn SD, xã TĐ, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

2/ Chị Lê Kim Ng, sinh năm 2000. (Vắng mặt)

3/ Bà Lê Thị D1, sinh năm 1962. (Vắng mặt)

4/ Chị Bao Kim Ng1, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Cái Đôi, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

5/ Ông Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1973. (Vắng mặt)

6/ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

7/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

8/ Bà Lê Thị Thu A1, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khóm T, phường H, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 22/07/2018 bị cáo Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô biển số 68A - 079.79 chở bà Phạm Thị T, bà Lê Thị D1, ông Lâm Văn D, chị Bao Kim Ng1, chị Lê Kim Ng xuất phát từ thị xã TA, tỉnh Bình Dương đi xuống xã NQ, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu để dự đám giỗ. Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày 22/07/2018 đến tuyến đường Quảng lộ (theo hướng từ Phụng Hiệp về Cà Mau) với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đến km 36 thuộc khóm T, phường H, thị xã N, bị cáo đã “ngủ gật” trong lúc điều khiển xe ô tô, nên để xe lao ra khỏi lề đường lộ bên phải, khi đó bà Huỳnh Thị Ph và bà Nguyễn Thị A đang đứng nói chuyện trước sân quán cà phê (cách lề lộ 01 mét), bị cáo không xử lý kịp thời tình huống, nên chiếc xe ô tô do bị cáo điều khiển đã đụng vào người bà Huỳnh Thị Ph và bà Nguyễn Thị A văng xuống ao nước, còn chiếc xe tiếp tục chạy thêm đoạn đường khoảng 30 mét và rơi xuống ao nước mới dừng lại. Ngay lúc đó, ông Nguyễn Văn Út E (người lối xóm) lội xuống ao nước trục vớt bà Huỳnh Thị Ph và bà Nguyễn Thị A lên bờ và đưa đi cấp cứu, khi đến Trạm y tế phường H, thị xã N thì bà Huỳnh Thị Ph đã tử vong. Riêng bà Nguyễn Thị A sau đó cũng được đưa đến Trung tâm y tế thị xã N cấp cứu và điều trị, đến ngày 23/07/2018 bà A được xuất viện. Đồng thời bà Nguyễn Thị A cũng có đơn không yêu cầu đi giám định thương tích.

Theo bản kết luận giám định pháp y tử thi số:135/PY-PC54 ngày 27/07/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận nạn nhân bà Huỳnh Thị Ph bị tổn thương chính qua giám định: Trên cơ thể nạn nhân có nhiều vết sây xát, rách da, bầm tụ máu; Vết bầm tụ máu ở 1/3 giữa mặt trước trong đùi bên phải; Bầm tụ máu dưới da đầu dưới vết số 1; Bầm tụ máu cơ thái dương bên trái; Hộp sọ vùng trán bên trái bị nứt; Từ vết nứt có máu và dịch não tủy chảy ra. Kết luận nguyên nhân tử vong: do Chấn thương sọ não/TNGT đường bộ.

Tại Cáo trạng số: 32/CT-VKS–KSĐT ngày 05/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm để xét xử bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự (BLHS) 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc kể từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B đã bồi thường thiệt hại xong cho gia đình của nạn nhân bà Huỳnh Thị Ph số tiền 200.000.000 đồng; và người bị hại bà Nguyễn Thị A số tiền 6.000.000 đồng, đồng thời đại diện gia đình của nạn nhân bà Huỳnh Thị Ph và bà Nguyễn Thị A có đơn xin bãi nại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Ngày 22/07/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Ngã Năm ra quyết định thu giữ phương tiện: 01 chiếc xe ô tô hiệu TOYOTA loại INNOVA biển số 68A- 079.79. Đến ngày 11/09/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Ngã Năm ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả lại cho chủ sở hữu bà Hồng Kim Ch nhận lại xong 01 chiếc xe ô tô hiệu TOYOTA loại INNOVA biển số 68A- 079.79 nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét. Đồng thời, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hồng Kim Ch không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm đã truy tố. Đồng thời bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại anh Nguyễn Thành T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A, bà Hồng Kim Ch cùng những người làm chứng ông Lâm Văn D, chị Lê Kim Ng, bà Lê Thị D1, chị Bao Kim Ng1, ông Nguyễn Văn Út E, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M, bà Lê Thị Thu A vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc xét xử, đồng thời họ cũng có lời khai tại Cơ quan điều tra nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 37 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); đã chứng minh đầy đủ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 của BLTTHS; tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Điều 65 của BLTTHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai các nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời, lời khai của bị cáo trùng khớp với biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra như: Vị trí bị hại đứng trước khi bị đụng qua đó xác định được điểm va chạm bên trong lề phải đường theo hướng đi từ Quãng lộ Phụng Hiệp về Cà Mau. Thấy rằng, bị cáo điều khiển xe trên chặn đường dài nhưng bị cáo không tuân thủ đúng quy định về an toàn giao thông đường bộ, phân bố thời gian nghỉ chưa hợp lý, là nguyên nhân dẫn đến “ngủ gật” không làm chủ được tay lái, để cho xe ô tô chạy không đúng làn đường, phần đường quy định, mà chạy ra khỏi lề đường (lộ bên phải) đụng vào người của bà Huỳnh Thị Ph và bà Nguyễn Thị A dẫn đến hậu quả làm cho bà Huỳnh Thị Ph tử vong, bà Nguyễn Thị A bị thương nhẹ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 điều 9 Luật giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và khoản 1 Điều 65 Luật giao thông đường bộ quy định:“Thời gian làm việc của người lái xe ô tô không được quá 10 giờ trong một ngày và không được lái xe liên tục quá 4 giờ”.

Theo bản kết luận giám định pháp y tử thi số:135/PY-PC54 ngày 27/07/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận nguyên nhân tử vong của bị hại Huỳnh Thị Ph do Chấn thương sọ não/TNGT đường bộ. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo B là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền được sống là quyền cơ bản nhất của con người được pháp luật bảo vệ mà còn trực tiếp làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn giao thông tại địa phương, nên việc truy tố đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là rất cần thiết. Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên thì cần có mức án tương xứng để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi gây tai nạn bị cáo đã tích cực đưa nạn nhân đi cấp cứu, sau khi biết nạn nhân tử vong thì bị cáo đã đến Công an phường H, thị xã N để đầu thú; bị cáo đã khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân bà Huỳnh Thị Ph số tiền 200.000.000 đồng và khắc phục cho bà Nguyễn Thị A 6.000.000 đồng; đại diện gia đình bị hại bà Ph và bà A có đơn xin bãi nại và yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm Dân sự: Do bị cáo đã khắc phục xong, không ai yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe ô tô hiệu TOYOTA loại INNOVA biển số 68A- 079.79 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Hồng Kim Ch, bà Ch cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi 02 con, 01 con đang học đại học và 01 con học lớp 10, từ trước đến nay bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương; có khả năng tự cải tạo, bị cáo có trên 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên đối chiếu với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên mức án tù cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và theo quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 2 Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự về án treo;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/11/2018. Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân phường BN, thị xã TA, tỉnh Bình Dương có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

5/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

6/ Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Nơi nhận:

Cỡ chữ