- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 13 (Mƣời ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 02/4/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2018/HS-ST Ngày: 15-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải;
2. Ông Vũ Đình Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Linh – Thứ ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại Nhà văn hóa thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1990 tại huyện K, tỉnh Hải Dƣơng. Nơi cƣ trú: Thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L và bà Phùng Thị H; có vợ là Lê Thị Bích Ph và 01 con, sinh tháng 5 năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/11/2012, Trƣởng Công an phƣờng Nhị Châu, thành phố Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 1000.000đ (Một triệu đồng; đã nộp xong tiền phạt vào ngày 30/11/2012 ); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2018 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 02/4/2018, tại trục thôn Tr, xã Ph, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng lực lƣợng Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của bị cáo Nguyễn Ngọc L 01 gói giấy màu trắng, kích thƣớc (0,5x2)cm, bên trong có chất bột màu trắng. L khai, chất bột màu trắng trong gói giấy là Heroine L vừa mua đƣợc, mục đích mang về sử dụng.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo nghiện chất ma túy, khoảng 12 giờ ngày 02/4/2018 bị cáo đi bộ từ nhà ở thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng đến đoạn đƣờng thôn Tr, xã Ph, huyện K gặp và mua của một ngƣời phụ nữ (Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này) số ma túy trên, hết 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số 240/KLGĐ-PC54 ngày 03/4/2018, Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thu của Nguyễn Ngọc L, gửi đến giám định có khối lƣợng là 0,202g (Không phẩy hai trăm linh hai gam), là loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTK ngày 24 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố Nguyễn Ngọc L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; xử phạt Nguyễn Ngọc L từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu tiêu huỷ: 0,134 gam Heroine do cơ quan giám định hoàn lại; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng. Bị cáo xác định do nghiện chất ma túy nên trƣa ngày 02/4/2018 đã đến đoạn đƣờng thôn Tr, xã Ph, huyện K gặp và mua số ma túy trên của một ngƣời phụ nữ (Bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này) để sử dụng, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trƣa ngày 02/4/2018, bị cáo Nguyễn Ngọc L có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,202g (Không phẩy hai trăm linh hai gam) chất ma túy Heroine, mục đích để sử dụng đã bị lực lƣợng Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 02/4/2018 tại thôn Tr, xã Ph, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng.
Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi mua, cất giấu chất ma tuý của bị cáo là vi phạm pháp luật, song với mục đích để sử dụng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, chất ma túy bị cáo cất giấu trái phép là Heroine, có khối lƣợng 0,202 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Nhƣ vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma tuý của Nhà nƣớc, bản thân bị cáo nghiện chất ma túy; ngày 30/11/2012 bị Trƣởng Công an phƣờng Nhị Châu, thành phố Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học để tự tu dƣỡng, rèn luyện bản thân mà lại phạm tội nên HĐXX thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành ngƣời tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị bắt giữ, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ đƣợc nhà nƣớc tặng thƣởng nhiều Huân, Huy chƣơng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc và phục vụ trong quân đội (02 Huân chương chiến sỹ vẻ vang, 01 Huân chương chiến công, 01 Huy chương kháng chiến) nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khối lƣợng chất ma tuý Heroine bị cáo tàng trữ trái phép, sau khi giám định còn lại 0,134 gam là vật cấm lƣu hành nay tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo không xác định đƣợc là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Về các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tứ Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 13 (Mƣời ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 02/4/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ: 0,134g (Không phẩy một trăm ba mƣơi bốn gam) Heroine do cơ quan giám định hoàn lại (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 02/5/2018).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về… án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15 tháng 5 năm 2018.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án, lƣu V.phong. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Quốc Quân |