- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 23/2018/HS-ST Ngày 22-6-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thúy
Ông Lương Hùng Dũng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tùng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2018/TLHS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Hữu T sinh năm 1987, tên gọi khác Út Tài; Nơi sinh: Thới Đông, Cờ Đỏ, Cần Thơ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: Thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Huỳnh Thị L; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30-3-2017 bị Công an huyện Đ, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2018 đến nay. Bị cáo “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Linh H sinh năm 1987, địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Cần Thơ (vắng).
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Anh Đ sinh năm 1986, địa chỉ: Xã X, huyện Đ, thành phố Cần Thơ (vắng).
2. Anh Lưu Văn H sinh năm 1992, địa chỉ: Xã P, huyện Đ, thành phố Cần Thơ (vắng).
3. Bà Huỳnh Thị N sinh năm 1957, địa chỉ: Xã X, huyện Đ, thành phố Cần Thơ (có mặt).
4. Bà Huỳnh Thị L sinh năm 1947, địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện Đ, thành
1
phố Cần Thơ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 31-3-2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cờ Đỏ thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Phạm Hữu T tại phòng trọ số 2, nhà trọ Lý Vân thuộc xã X, huyện Đ, thành phố Cần Thơ phát hiện bị cáo Phạm Hữu T và Nguyễn Thị Linh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể không màu, 01 gói nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 chai nhựa tự chế, 01 cái nỏ bằng thủy tinh, 01 hột quẹt gas, 01 bao thiệp màu vàng, 01 ruột thiệp màu vàng, 01 bóp da màu nâu, tiền Việt Nam là 1.000đồng thu trên người của bị cáo T và số tiền 179.000 đồng thu trên người của Nguyễn Thị Linh H.
Căn cứ Bản kết luận giám định số: 254/KL – PC54, ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận:
Gói 1: Mẫu tinh thể không màu trong 01 gói nilon (Ký hiệu M1) gửi giám định, được niêm phong có dấu vân tay ghi tên Phạm Hữu T và chữ ký ghi tên Huỳnh Thị N là ma túy, có trọng lượng 2,2676 gam, loại Methamphetamine.
Gói 2: Chất bột màu trắng trong 01 gói nilon (Ký hiệu M2) gửi giám định, được niêm phong có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Linh H và Huỳnh Thị N là ma túy, khối lượng 0,3639 gam, loại Ketamine.
Quá trình điều tra xác định bản thân bị cáo Phạm Hữu T là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 31-3-2018 bị cáo mượn xe mô tô của người bạn (không rõ họ tên thật, địa chỉ) điều khiển đến khu vực đường 91B thuộc quận M, thành phố Cần Thơ rồi nhờ người chạy xe ôm mua hộ 01 gói ma túy 1.000.000đồng về sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày khi đang sử dụng ma túy cùng với Trần Anh Đ, Lưu Văn H và Nguyễn Thị Linh H thì bị Công an khám xét khẩn cấp và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra bị cáo thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Vật chứng thu trên người của bị cáo T đang tạm giữ chờ xử lý, số tiền 170.000đồng thu trên người của chị H Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Cờ Đỏ trả lại cho chị H.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSCĐ ngày 31-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm
2
tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số: 254 G1/KL-PC54, 01 gói niêm phong số: 254 G2/KL-PC54, 01 chai nhựa tự chế, 01 cái nỏ bằng thủy tinh, 01 hột quẹt gas, 01 bao thiệp màu vàng, 01 ruột thiệp màu vàng và 01 bóp da màu nâu. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền Việt Nam là 1.000đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Hữu T thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố bị cáo và khai nhận, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên khoảng 15 giờ ngày 31-3-2018 bị cáo mượn xe mô tô của một người bạn điều khiển đến khu vực đường 91B thuộc quận M, thành phố Cần Thơ nhờ người chạy xe ôm mua hộ 01 gói ma túy với giá 1.000.000đồng về sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày khi đang sử dụng ma túy cùng với các con nghiện thì bị Công an khám xét khẩn cấp bắt quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa.
Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Theo kết luận giám định số 254/KL-PC54 ngày 06-4-2018 ma túy mà bị cáo tàng trữ loại Methamphetamine có trọng lượng là 2,267gam. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo thực hiện xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng bị
3
pháp luật nghiêm cấm, mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý nghiêm minh nhưng để thỏa mản nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân mà cố tình thực hiện. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng có liên quan đến việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Tiền Việt Nam 1.000đồng tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Đối với gói ma túy loại Ketamine, trọng lượng 0,3639 gam quá trình điều tra xác định là của Nguyễn Thị Linh H. Do gói ma túy không đủ định lượng nên Công an huyện Cờ Đỏ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1 Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Pham Hữu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01-4-2018.
2 Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 254 G1/KL-PC54, 01 gói niêm phong số 254 G2/KL-PC54 là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 chai nhựa tự chế, 01 cái nỏ bằng thủy tinh, 01 hột quẹt gas, 01 bao thiệp màu vàng, 01 ruột thiệp màu vàng và 01 bóp da màu nâu.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền Việt Nam 1.000đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ/VKSCĐ ngày 31-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ).
3 Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng
4
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKDND TP.CT; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Đ; - Chi cục THADS sự huyện Đ; - Lưu hồ sơ vụ án. 5 HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Thơm Huỳnh Thanh Vũ 6 7 8 | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |