vanban.org

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Ngô Văn B không phải là vợ chồng.

Về con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Ngô Văn B không phải là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 23/2018/HNGĐ-ST.
Ngày 18-6-2018
V/v “Không công nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Yến

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Kha

Bà Đinh Thị Lương Oanh

- Thư ký phiên Tòa: Ông Ngô Ngọc Linh – Thư ký Tòa án

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018. Giữa:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1979. Trú tại: ấp 3, xã TT, thị xã ĐX, tỉnh Bình Phước. (xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Ngô Văn B, sinh năm 1978. Trú tại: ấp 3, xã TT, thị xã Đ X, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2016 và bản tự khai bà Phạm Thị C trình bày:

Bà và ông Ngô Văn B chung sống như vợ chồng từ năm 1999, việc chung sống là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Thời gian đầu bà và ông B chung sống hạnh phúc. Từ năm trở lại đây vợ chống chung sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng hay cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do ông B không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên xúc phạm, đánh đập, đe dọa giết bà.

Nay, bà C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà C yêu cầu được ly hôn với ông B. Về con chung: Bà và ông B có 03 con chung là cháu Ngô Thị Ngọc T, sinh năm 2000, cháu Ngô Thị Hà V, sinh năm 2004 và cháu Ngô Thị Trúc L, sinh năm 1911, bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Ngô Văn B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.

- Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Đối với thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên toà và các đương sự đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Do bà C và ông B chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị C, tuyên bố bà Phạm Thị C và ông Ngô Văn B không phải là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định: [1].Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình “Không công nhận quan hệ vợ chồng” do bà Phạm Thị C khởi kiện, bị đơn ông Ngô Văn B trú tại ấp 03, xã TT, thị xã ĐX, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. [2].Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Xét thấy, vào ngày 07 tháng 5 năm 2018 nguyên đơn bà C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Ngô Văn B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tòa án căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà C và ông B theo thủ tục chung. [3].Về quan hệ hôn nhân: Bà C trình bày bà chung sống như vợ chồng với ông B từ năm 1999, việc sống chung do hai bên tự nguyện, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại chính quyền định phương theo quy định của pháp luật, ông B không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà C. Tòa án căn cứ khoản 02, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 35/2000/QH10 này 09/6/2000 của Quốc Hội Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định hôn nhân giữa bà C và ông B là không hợp pháp. Do đó, Tòa án tuyên bố bà C và ông B không phải là vợ chồng. [4].Về con chung: Trong thời gian chung sống bà C và ông B có 03 con chung là cháu Ngô Thị Ngọc T, sinh năm 2000, cháu Ngô Thị Hà V, sinh năm 2004 và cháu Ngô Thị Trúc L, sinh năm 1911. Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

.Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

.Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

. Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Toà là có căn cứ được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Ngô Văn B không phải là vợ chồng.

2. Về con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000153 ngày 12 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án thị xã ĐX, bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ