vanban.org

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích V.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bích V được ly hôn với anh Phạm Ngọc B. Về việc nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Bích V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Phạm Trần Diễm Q1, sinh ngày 15/6/2003; Phạm Trần Thục Q2, sinh ngày 19/8/2006 và Phạm Hà M, sinh ngày 06/10/2017, khi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Trần Thị Bích V và anh Phạm Ngọc B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22/10/2018
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kia.

2. Bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2018/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2018 “V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/9/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích V; địa chỉ: Tổ H, phường AP, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Ngọc B; địa chỉ: Tổ H, phường AP, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Bích V trình bày: Chị V và anh Phạm Ngọc B tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã TG, huyện TS, tỉnh Bình Định, theo giấy chứng nhận kết hôn số 269 vào ngày 25/11/2002. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh B không quan tâm chăm lo cho gia đình, luôn ham mê bài bạc, say xỉn. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, không có hạnh phúc nên không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân. Do vậy, chị V yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Phạm Ngọc B.

Về con chung: Chị V và anh B có 03 con chung là Phạm Trần Diễm Q1, sinh ngày 15/6/2003; Phạm Trần Thục Q2, sinh ngày 19/8/2006 và Phạm Hà M, sinh ngày 06/10/2017. Chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản khai ngày 04/6/2018, bị đơn anh Phạm Ngọc B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh B mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, nếu chị V vẫn cương quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị V.

Về con chung: Anh B và chị V có 03 con chung như chị V đã trình bày. Nếu phải ly hôn với chị V thì anh đồng ý giao cả ba con chung cho chị V nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi các con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Bích V yêu cầu ly hôn với anh Phạm Ngọc B; địa chỉ: Tổ H, phường AP, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Trong qúa trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù anh Phạm Ngọc B đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Ngọc B.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích V và anh Phạm Ngọc B có đủ điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị V và anh B đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh B. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải giải nhưng anh B không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị V. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị V cho rằng không thể tiếp tục chung sống với nhau và cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích V đối với anh Phạm Ngọc B.

Về nuôi con chung: Chị V và anh B có 03 con chung là Phạm Trần Diễm Q1, sinh ngày 15/6/2003; Phạm Trần Thục Q2, sinh ngày 19/8/2006 và Phạm Hà My, sinh ngày 06/10/2017. Chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy vì lợi ích của các con chung, hiện nay các cháu còn nhỏ, trong đó cháu M chưa được 36 tháng tuổi, nên cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Đồng thời, cháu Q1 và Q2 cũng có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao các cháu Phạm Trần Diễm Q1, sinh ngày 15/6/2003; Phạm Trần Thục Q2, sinh ngày 19/8/2006 và Phạm Hà My, sinh ngày 06/10/2017 cho chị Trần Thị Bích V được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị V không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Trần Thị Bích V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Phạm Ngọc B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích V.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bích V được ly hôn với anh Phạm Ngọc B.

- Về việc nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Bích V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Phạm Trần Diễm Q1, sinh ngày 15/6/2003; Phạm Trần Thục Q2, sinh ngày 19/8/2006 và Phạm Hà M, sinh ngày 06/10/2017, khi các cháu Q1, Q2 và M chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị Trần Thị Bích V không yêu cầu anh Phạm Ngọc B phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Trần Thị Bích V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006960 ngày 17/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã AK, tỉnh Gia Lai, chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Phạm Ngọc B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/10/2018), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ