vanban.org

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 05/03/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J được ly hôn.

[2] Về con chung và tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J không có. [3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010608 ngày 05/02/2018 tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa Trần Thị T với Nguyễn J"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 3 - 2018
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Hồ Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Huy Hoàng

Ông Nguyễn Kim San

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 05 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2018 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 370/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, cư trú tại xóm A, xã A1, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn J, hiện cư trú tại: X, Canada V4W4 L3, vắng mặt.

Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện, làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/12/2010.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc. Từ năm 2014 anh Nguyễn J trở về Canada, chị T vẫn lại Việt Nam và từ đó vợ chồng sống mỗi người một nơi. Cũng từ thời điểm này, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mỗi người một nơi, không tin tưởng nhau nên tình cảm vợ chồng không còn. Chị T nhận thấy hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, và không có khả năng đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn J.

Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J không có con chung, yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J không có tài sản chung, yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn J trình bày: Thống nhất về quá trình kết hôn, mâu thuẫn, con chung và tài sản chung như lời khai của chị Trần Thị T. Anh Nguyễn J yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh và chị T được ly hôn, đồng thời anh có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử vắng mặt anh.

Tại phiên toà chị Trần Thị T và anh Nguyễn J vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/12/2010 nên là hôn nhân hợp pháp. Hiện nay anh Nguyễn J đang cư trú tại Canada, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về tố tụng:

Do anh Nguyễn J đang sinh sống tại Canada nên yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của đương sư phù hợp khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Hai Phòng xét xử vắng mặt chị Trần Thị T và anh Nguyễn J.

Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn chị Trần Thị T và anh Nguyễn J chung sống hạnh phúc đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau mỗi người một nơi nên không tin tưởng nhau, hiện tại không ai còn quan tâm đến nhau và sống ly thân. Chị T và anh Nguyễn J thuận tình ly hôn và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh chị được ly hôn là phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 55, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh Nguyễn J nên được chấp nhận.

Về con chung và tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 55; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J được ly hôn.

[2] Về con chung và tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn J không có.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010608 ngày 05/02/2018 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hô sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Trần Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Nguyễn J được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bán án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ