vanban.org

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Hồ Bá Th.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung là Hồ Thị Yến Nh, sinh ngày 24/9/2012 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị T yêu cầu ly hôn Hồ Bá Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Hồ Bá Th.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 24/7/2018.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đóa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Thịnh

2. Bà Đỗ Thị Hằng

- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện VKS nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại hội trường Tòa án huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 112/2018/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2018/QĐXX-ST ngày 12 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1987. Có mặt

Địa chỉ: Xóm 2, xã QL, huyện QL, tỉnh Nghệ An

2. Bị đơn: Anh Hồ Bá Th, sinh năm 1986. Có mặt

Địa chỉ: Xóm 2, xã QL, huyện QL, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2018, bản tự khai, quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Bá Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã H Th, huyện Y Th, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/12/2010. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau không có hạnh phúc, thường xuyên xẩy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn vợ chồng là do anh Th hay nghe người ngoài và hay nghe bố mẹ đẻ, thường xuyên đánh đập vợ con, gia trưởng. Hai vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay, không còn hỏi han, quan tâm tới nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết để chị được ly hôn với chồng là anh Hồ Bá Th.

Về quan hệ con cái: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh Th có hai người con chung với nhau, con đầu tên là Hồ Bá T, sinh ngày 04/01/2011 và con thứ hai tên là Hồ Thị Yến Nh, sinh ngày 24/9/2012. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị được quyền trực tiếp nuôi con Hồ Thị Yến Nh và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Hồ Bá T chị giao cho anh Th nuôi dưỡng.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay anh Hồ Bá Th trình bày:

Về hôn nhân: Anh Th thống nhất về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn như chị T trình bày ở trên là đúng. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, hai vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay. Nay chị T làm đơn ra Tòa án xin ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh Th thống nhất về họ tên ngày tháng năm sinh của các con chung như chị T trình bày ở trên là đúng. Ly hôn anh xin được nuôi cả 02 con chung vì hiện nay chị T đang còn đi học nên không có điều kiện để nuôi con. Khi nào chị T tìm được việc làm ổn định thì nuôi con sau cũng được.

Về quan hệ tài sản: anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện VKS phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay anh Th có mặt tham gia phiên tòa.

Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51; các Điều 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí đề nghị xử:

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Hồ Bá Th.

Về con chung: Giao con chung là Hồ Thị Yến Nh, sinh ngày 24/9/2012 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Giao con chung là Hồ Bá T, sinh ngày 04/01/2011 cho anh Hồ Bá Th trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị T và anh Th vì không ai yêu cầu.

Chị T và anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản: Chị T và anh Th không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về hôn nhân: Chị Trần Thị T kết hôn với anh Hồ Bá Th vào ngày 06/12/2010. Đăng ký kết hôn tại UBND xã H Th, huyện Y Th, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hôn nhân tuân thủ các điều kiện kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống chung vợ chồng chị T và anh Thi có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, theo chị T thì anh Th nghe bố mẹ đẻ và nghe người ngoài nên hay chửi bới, đánh đập và xúc phạm chị; theo anh Th thì mâu thuẩn là do cả hai vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Th đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đươc. Do đó cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hồ Bá Th

. Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Hồ Bá Th có với nhau hai người con chung, con đầu tên là Hồ Bá T, sinh ngày 04/01/2011 và con thứ hai tên là Hồ Thị Yến Nh, sinh ngày 24/9/2012. Chị T có nguyện vọng được nuôi con Hồ Thị Yến Nh và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Hồ Bá T chị giao cho anh Th nuôi dưỡng. Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Hồ Bá T đề ngày 06/6/2012 cháu trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với bố. Vì vậy, cần áp dụng điều 81 Luật HNGĐ giao con chung là Hồ Thị Yến Nh cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là Hồ Bá T cho anh Hồ Bá Th trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị T và anh Th vì không ai yêu cầu.

Chị T và anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

. Về quan hệ tài sản: Chị T và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39,147, 235, 271 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Hồ Bá Th.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là Hồ Thị Yến Nh, sinh ngày 24/9/2012 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Giao con chung là Hồ Bá T, sinh ngày 04/01/2011 cho anh Hồ Bá Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T và anh Th vì không ai yêu cầu.

2.3. Chị T và anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không được ai cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại chị cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai thu tiền số 0001631 ngày 20/4/2018.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ