vanban.org

Bản án 23/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 22/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ N ph m tội: "Lừa đảo chiếm đo t tài sản":

Xử ph t bị cáo Nguyễn Sỹ N 17 (mười bảy) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày b t t m giữ, t m giam bị cáo (ngày 22/11/2016). Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N phải bồi thường thiệt h i cho ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ N ph m tội: "Lừa đảo chiếm đo t tài sản":
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2017/HSST
Ngày: 22-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Hoài, Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Ông Ph m Thành, Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Giang và bà Nguyễn Thị Hải Thu n - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tr n Trọng Thưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2017, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai vụ án Hình sự thụ lý số 16/2017/TLST-HS ngày 18/5/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Sỹ N - Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1989;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

T n giáo: Kh ng;

Con ông: Nguyễn Sỹ N Sinh năm 1958 Nghề nghiệp: Hưu trí;

Con bà: Đặng Thị L Sinh năm 1959 Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Hiện nay bố mẹ đều trú t i tổ dân phố 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh;

Anh chị em ruột: Có 2 người, bị can là con thứ 2;

Vợ: Trương Thị D, Sinh năm 1989, Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện sống t i: Tổ dân phố 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Con: có 01 người, sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị khởi tố bị can ngày 24/11/2016, bị t m giữ, t m giam từ ngày 22/11/2016 đến nay, hiện đang bị t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

3. Tr n Nguyên T, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số nhà 151, đường Nguyễn Văn C, khối 23, phường H, thành phố V, tỉnh Nhệ An- V ng mặt

4. Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm 2, Văn G, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

5. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

6. Tr n Văn L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

7. Phan Ngọc N, sinh năm 1991; Địa chỉ; Tổ dân phố 2, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

8. Ng Văn C, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khối phố 3, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Có mặt

9. Dương Văn L, sinh năm 1950; Địa chỉ: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh Ngệ An – Có mặt

10. Nguyễn Tiến V, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh

11. Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

12. Nguyễn Tất T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số 106, đường L, khu phố 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương - V ng mặt

- N i i di n theo u qu n của anh T: nh N u n Văn C, sinh năm 1951

Địa chỉ: Khối Tân L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An - Có mặt

13. Dương Thị L, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số nhà 65, đường L, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Có mặt

14. Vương Khả P, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh – V ng mặt.

15. Dương Kim H, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số nhà 21, Ngõ 10, đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt.

16. Võ Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số nhà 41, đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Có đơn xin v ng mặt

17. Hồ Văn C, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số nhà 166, đường T, tổ dân phố 6, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – V ng mặt

18. Lê Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khối 7, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

19. Tr n Văn Đ, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh

Chổ ở: Số nhà 34/7 đường T, Quận , thành phố Hồ Chí Minh – V ng mặt

20. Tr n Thị Hồng V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khối phố Hậu Thượng, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (số nhà 21, ngõ 116, đường N) – Có đơn xin v ng mặt

21. Tr n Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

22. Lê Thị Thái B, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khối phố Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Có đơn xin v ng mặt

23. Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

24. Tr n Thu H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 267, đường N, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Có đơn xin v ng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trương Thị D, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

3. Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xóm L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

4. Hoàng Thị H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Khối phố 6, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An - Có mặt

5. Nguyễn Quốc T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khối phố 2, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

6. Đặng Thái T, sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Ng, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

7. Nguyễn Như H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Khối phố T, phường V, thành phố Hà, tỉnh Hà Tĩnh (Số nhà 9B, đường Nguyễn B, phường V) - Có mặt.

8. Trương Hữu D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

9. Vương Khả M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số nhà 10/19 khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bỉnh Dương - Có đơn xin v ng mặt

10. Ph m Văn T, sinh năm1984; Địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị Trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

11. Nguyễn Quang V, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm 2, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

12. Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm 2, xã X, huyện Nghi X, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

13. Hoàng Thị Y, sinh năm1982; Địa chỉ: Khối phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

14. Nguyễn Trí K, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ dân phố 12, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

15. Nguyễn Hoài N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

16. Dương Thị L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số nhà 15, đường T, khối phố 3, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Có mặt

17. Nguyễn Văn N, sinh năm 1936; Địa chỉ: Tổ 2, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

N i i di n theo u qu n của ông N: nh N u n hi , sinh năm 1974; Địa chỉ: Khối phố 2, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

18. Ph m Thị Ánh D, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà 69, khối phố 3, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

19. Ph m Hữu C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khối phố Hợp T, phường Th ch L, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

20. Lê Hữu C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số nhà 29, ngõ 3, đường P, khối 4, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

21. Tr n Thị T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khối 7, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

22. Nguyễn Văn C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

23. Tr n Thị H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà 55, đường N, tổ 3, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

24. Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ 4, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

25. Đậu Thị Kim L, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số nhà 55, đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Có đơn xin v ng mặt

26. Nguyễn Trung K, sinh năm1972; Địa chỉ: Số nhà 83, đường N, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Có mặt

27. Hoàng Văn N, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số nhà 51, đường N, khối 10, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

28. Đặng Ngọc X, sinh năm 1981; Địa chỉ: Xóm Đ ng T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

29. Dương Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà 12, ngõ 9, đường P, khối 7, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt

30. Nguyễn Tam T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số nhà 29A, đường P, tổ 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - V ng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Sỹ N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố về hành vi ph m tội như sau:

Nguyễn Sỹ N nguyên là cán bộ, lợi dụng các mối quan hệ quen biết N đã vay tiền của nhiều người để tiêu xài cá nhân, chơi l đề, cá độ bóng đá dẫn đến nợ n n, không có khả năng thanh toán. Số tiền Nguyễn Sỹ N đã vay nợ của 16 người là 2.260.000.000 đồng và 1000 USD. Bị các chủ nợ đòi ráo riết nhưng không có tiền để trả, Nguyễn Sỹ N bằng nhiều thủ đo n gian dối đưa ra th ng tin kh ng đúng sự thật như: N có nhiều mối quan hệ với nhiều người ở Bộ Công an và lãnh đ o tỉnh Hà Tĩnh nên có khả năng xin vào làm việc trong ngành Công an, Ngân hàng và các cơ quan Nhà nước, ch y điểm thi vào các trường… để lừa đảo chiếm đo t tài sản của người khác. Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2014 đến tháng 11/2016, Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t tiền của 24 người trên địa bàn Hà Tĩnh, Nghệ An và Bình Dương với tổng số tiền 8.119.000.000 đồng (Tám tỷ, một trăm mười chín triệu đồng). Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Nguyễn Sỹ N là b n bè với anh Nguyễn Sỹ H làm việc t i Bộ Tư lệnh cảnh vệ - Bộ Công an. Vào khoảng tháng 5/2014, N biết H có nguyện vọng muốn xin về công tác t i C ng an Hà Tĩnh nên Nhân đã nói dối với H là N có nhiều mối quan hệ ngoài Bộ Công an có thể xin cho H về công tác t i Hà Tĩnh với chi phí hết 120 triệu đồng, anh H đồng ý và đưa cho N số tiền 120 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của anh H, N đã sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ cho người khác.

Hiện nay anh Nguyễn Sỹ H yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho H số tiền 120 triệu đồng.

Lần thứ hai: Vào đ u năm 2015, anh Nguyễn Quốc T giới thiệu, chị Nguyễn Thị T đến nhờ Nguyễn Sỹ N xin cho con gái là Kiều Thị Lê N vào làm ở C ng an Hà Tĩnh. Nguyễn Sỹ N nói dối với chị T là N có người quen làm ngoài Bộ Công an, N sẽ xin được việc cho con gái chị T vào làm ở Công an tỉnh Hà Tĩnh với chi phí hết 600 triệu đồng. Tháng 6/2015, chị T vào thành phố Hà Tĩnh đưa cho N hai l n tổng số tiền 600 triệu đồng. Đến năm 2016, N tiếp tục nói dối với chị T hồ sơ của con gái chị T đã được duyệt và yêu c u chị T đưa thêm 200 triệu đồng. Chị T chỉ đưa thêm cho N 100 triệu đồng, N hẹn tháng 9/2016 cháu N sẽ có quyết định tiếp nhận công tác. Số tiền Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t của chị Nguyễn Thị T là 700 triệu đồng, N cho l i anh T 15 triệu đồng, số tiền còn l i N khai sử dụng đánh b c, trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Thấy N kh ng xin được việc cho con, chị Nguyễn Thị T nhiều l n yêu c u N trả l i tiền, đến nay N đã trả l i cho chị T số tiền 350 triệu đồng. Anh Nguyễn Quốc T đã nộp l i cho Cơ quan điều tra số tiền 15 triệu đồng mà N đưa cho anh T, cơ quan điều tra đã trả l i cho chị Nguyễn Thị T số tiền này. Hiện nay, chị Nguyễn Thị T yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 335 triệu đồng.

Lần thứ ba: Cuối năm 2015, anh Tr n Nguyên T nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho cháu Nguyễn Hoàng V (con gái chị Nguyễn Thị L trú t i xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) vào làm ở Sở nông nghiệp tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Sỹ N nói với anh T chi phí hết 120 triệu đồng, đặt cọc trước 100 triệu đồng. Sau đó, chị Nguyễn Thị L đưa cho anh T số tiền 100 triệu đồng, kèm theo một bộ hồ sơ xin việc mang tên Nguyễn Hoàng V và nhờ anh T xin việc cho cháu gái chị L. Sau khi nhận tiền và hồ sơ từ chị L, ngày 10/11/2015, anh Tr n Nguyên T vào thành phố Hà Tĩnh đưa cho Nguyễn Sỹ N bộ hồ sơ xin việc của cháu V và số tiền 100 triệu đồng, N hẹn trong tháng 12/2015, cháu V sẽ có quyết định đi làm (chị Nguyễn Thị L không biết Nguyễn Sỹ N và cũng kh ng trực tiếp đưa tiền cho N).

Số tiền Nguyễn Sỹ N chiếm đo t của anh Tr n Nguyên T là 100 triệu đồng, N sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay, anh T đã trả l i cho chị Nguyễn Thị L số tiền 100 triệu đồng còn Nguyễn Sỹ N chưa trả l i cho anh T số tiền đã chiếm đo t. Anh Tr n Nguyên T yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho anh T số tiền 100 triệu đồng.

Lần thứ tư: Vào khoảng tháng 8/2015, thông qua anh Nguyễn Quốc T giới thiệu, chị Nguyễn Thị Hồng D đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin cho con trai chị D vào học trường Trung cấp Công an ở Hà Nội, N nói dối với chị D, N có khả năng xin cho các trường hợp vào học trường Trung cấp Công an với chi phí hết 170 triệu đồng. Chị Nguyễn Thị Hồng D đồng ý và đã hai l n vào thành phố Hà Tĩnh đưa tiền cho N với số tiền 170 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của chị D, N đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết mà không thực hiện cam kết như đã hứa với chị D.

Quá thời h n cam kết nhưng kh ng thấy con trai có quyết định đi học, chị D nhiều l n yêu c u N trả l i tiền nên Nguyễn Sỹ N đã trả l i đủ cho chị D số tiền 170 triệu đồng.

Lần thứ năm: Vào khoảng tháng 10/2015, thông qua anh Nguyễn Quốc T giới thiệu, anh Nguyễn Hữu T đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin cho cháu gái là Lê Thị Thúy H vào học Học viện Cảnh sát Nhân dân. Nguyễn Sỹ N gặp và nói dối với anh T là N có khả năng xin được cho cháu gái anh T vào học với chi phí hết 400 triệu đồng, đặt cọc trước 200 triệu đồng. Anh Nguyễn Hữu T đồng ý và đưa cho anh T số tiền 200 triệu đồng và nhờ anh T đưa cho Nguyễn Sỹ N để N xin cho cháu gái anh T đi học. Sau đó anh T đã đưa cho N số tiền 200 triệu đồng t i thị trấn Đ, huyện Đ.

Số tiền Nguyễn Sỹ N chiếm đo t của anh Nguyễn Hữu T là 200 triệu đồng, N sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Đến tháng 7/2016, không thấy giấy báo nhập học nên anh T nhiều l n gọi điện đòi tiền nên N đã chuyển trả l i 200 triệu đồng cho anh T.

Lần thứ sáu: Vào khoảng tháng 11/2015, Nguyễn Sỹ N nói dối với anh Tr n Xuân C (trú t i xã X, huyện N) là N xin được mấy suất đi nghĩa vụ Công an sau đó chuyển vào được biên chế, nếu biết ai có nhu c u thì giới thiệu cho N. Sau đó anh Tr n Văn L (anh trai của anh C) đã liên hệ và nhờ N xin cho con trai anh L là Tr n Tuấn V đi nghĩa vụ Công an, N nói với anh L là chi phí hết 250 triệu đồng, đặt cọc trước 200 triệu đồng, anh L đồng ý. Trong tháng 12/2015, anh L cùng anh C đã hai l n vào thành phố H đưa cho N số tiền 200 triệu đồng. Đến tháng 2/2016, N tiếp tục nói dối anh L là N c n tiền đi các xếp để lo việc cho con trai anh L nên bảo anh L chuẩn bị số tiền 30 triệu đồng bỏ vào 02 phong bì đưa vào thành phố H cho N.

Số tiền Nguyễn Sỹ N lừa đảo chiếm đo t của anh Tr n Văn L là 230 triệu đồng, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết, không có khả năng trả l i. Hiện nay anh Tr n Văn L yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho anh L số tiền 230 triệu đồng.

Lần thứ bảy: Vào đ u năm 2016, th ng qua Nguyễn Đình C giới thiệu, anh Phan Ngọc N đã liên hệ và nhờ Nguyễn Sỹ N xin cho anh N vào làm trong ngành Công an. Nguyễn Sỹ N nói dối với anh N là N có khả năng xin cho N vào công tác trong ngành với chi phí 500 triệu đồng, tháng 3/2016 sẽ có quyết định đi làm. Tháng 1/2016 và tháng 2/2016, anh N đã vào thành phố H chuyển tiền cho Nguyễn Sỹ N ba l n tổng số tiền 480 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của anh N, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Tháng 5/2016, thấy không có quyết định tiếp nhận công tác nên anh N nhiều l n thúc giục N trả l i tiền nên đến tháng 8/2016, N đã trả l i số tiền 480 triệu đồng đồng cho anh N.

Tháng 10/2016, Nguyễn Sỹ N tiếp tục gọi điện tho i cho Phan Ngọc N nói“Có một suất vào Ngân hàng Nông nghi p Hà Tĩnh với giá 400 tri u ồng, cần ặt cọc số ti n 200 tri u ồn ”. Ngày 25/10/2016, t i thành phố H anh Phan Ngọc N đưa cho N 150 triệu đồng. Sau khi nhận tiền N đã sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết, hiện chưa trả l i số tiền này cho anh N.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t của anh Phan Ngọc N hai l n là 630 triệu đồng, N đã trả l i cho anh N số tiền 480 triệu đồng, còn l i 150 triệu đồng N không có khả năng hoàn trả. Hiện nay anh Phan Ngọc N yêu c u N phải hoàn trả số tiền còn l i 150 triệu đồng.

Lần thứ tám: Khoảng tháng 2/2016, thông qua ông Nguyễn Như H giới thiệu, anh Ng Văn C đã nhờ ông H trao đổi với Nguyễn Sỹ N để xin việc cho cháu của anh C là Tr n Anh Đ - con trai của chị Hoàng Thị H (trú t i phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An) vào công tác t i Công an tỉnh Nghệ An. Nguyễn Sỹ N nói với anh C là chi phí hết 400 triệu đồng và hứa với anh C tháng 5/2016 sẽ có quyết định tiếp nhận c ng tác. Sau đó chị Hoàng Thị H đưa cho anh C 400 triệu đồng, anh C đã đưa cho ng H số tiền này và nhờ ng H đưa cho N (chị Hoàng Thị H không biết và cũng kh ng trực tiếp đưa tiền cho Nguyễn Sỹ N). Sau đó, ng H đã hai l n đưa cho N số tiền 400 triệu đồng t i nhà riêng của ông H ở phường V, thành phố H.

Số tiền Nguyễn Sỹ N lừa đảo chiếm đo t của anh Ng Văn C là 400 triệu đồng, N cho l i ông H 5 triệu đồng, số tiền còn l i N đã dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Hiện nay anh Ng Văn C đã trả l i cho chị Hoàng Thị H số tiền 285 triệu đồng, còn Nguyễn Sỹ N chưa trả l i tiền cho anh C. Quá trình điều tra, ông H đã nộp l i cho cơ quan điều tra số tiền 5 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i cho anh Ng Văn C số tiền này. Hiện nay, anh Ng Văn C yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 395 triệu đồng.

Lần thứ chín: Vào khoảng tháng 2/2016, thông qua ông Tr n Nguyên T giới thiệu, ng Dương Văn L đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho con trai ông L là Dương Hải Q. Nguyễn Sỹ N nói dối với ông L là N có thể xin được cho con trai ông L vào công tác t i phòng Quản lý hành chính Công an tỉnh Nghệ An với chi phí là 570 triệu đồng, đặt cọc trước 500 triệu đồng. Tháng 3/2016, ông L cùng ông T đã hai l n vào thành phố H đưa cho Nguyễn Sỹ N số tiền 400 triệu đồng để nhờ N xin việc cho con trai. Ngày 25/10/2016, ông L tiếp tục chuyển khoản cho N số tiền 20 triệu đồng vào tài khoản của N t i Ngân hàng BIDV Hà Tĩnh.

Sau khi nhận tiền của ông L, Nguyễn Sỹ N cho l i ông T 20 triệu đồng, số tiền còn l i Nhân dùng để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Quá trình điều tra, ông Tr n Nguyên T đã nộp l i cho Cơ quan điều tra số tiền 20 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i cho ng Dương Văn L số tiền này. Hiện nay, ng Dương Văn L yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 400 triệu đồng.

Lần thứ 10: Khoảng tháng 3/2016, thông qua anh Nguyễn Sỹ Q giới thiệu, anh Nguyễn Tiến V đã liên hệ với Nguyễn Sỹ N để nhờ N xin việc cho V vào ngành Công an. Nguyễn Sỹ N nói dối với anh V là N sẽ xin cho anh V vào công tác t i An ninh tivi Nghệ An với chi phí hết 600 triệu đồng, đặt cọc 500 triệu đồng, tháng 7/2016, anh V sẽ có quyết định đi làm, anh V đồng ý. Trong tháng 4/2016, anh Nguyễn Tiến V cùng mẹ Tr n Thị D và chị gái Nguyễn Thị N đã ba l n ra thành phố H đưa cho N số tiền là 520 triệu đồng.

Số tiền chiếm đo t của anh V, N đã sử dụng để đánh b c, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Thấy N kh ng xin được việc, anh V nhiều l n gọi điện yêu c u N trả l i tiền thì N đã trả l i cho anh V 15 triệu đồng, số tiền 505 triệu đồng còn l i N không có khả năng hoàn trả. Hiện nay anh Nguyễn Tiến V yêu c u Nguyễn Sỹ N trả l i số tiền 505 triệu đồng.

Lần thứ 11: Vào khoảng tháng 3/2016, thông qua anh Nguyễn Tiến V giới thiệu, anh Nguyễn Văn T đã liên hệ nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho chị Nguyễn Thị N (vợ anh T). Nguyễn Sỹ N nói dối với anh T là N có quen biết với lãnh đ o của Uỷ ban nhân dân tỉnh và sẽ nhờ để xin cho chị N vào d y văn t i trường Trung học cơ sở K, chi phí xin việc hết 120 triệu đồng, anh T đồng ý. Ngày 22/4/2016, anh T ra thành phố H đưa cho N 100 triệu đồng, ngày 9/5/2016, anh T tiếp tục ra thành phố H đưa cho N 20 triệu đồng.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của anh T là 120 triệu đồng, N đã sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay anh Nguyễn Văn T yêu c u N phải trả l i số tiền 120 triệu đồng.

Lần thứ 12: Nguyễn Sỹ N và anh Vương Khả M, trú t i phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương là b n bè với nhau. Vào khoảng tháng 5/2016, N nói với anh M là “Bộ Côn an ang có hai suất tuyển vào Công an tỉnh Bình D ơn và Công an Thành phố Hồ Chí Minh”. Anh M nói l i thông tin này với anh Nguyễn Tất T, trú t i phường P, Thành phố T. Sau đó anh Nguyễn Tất T liên hệ với Nguyễn Sỹ N xin cho con trai anh T là Nguyễn M nh D vào làm ở Công an tỉnh Bình Dương. Nguyễn Sỹ N nói với anh T chi phí hết 600 triệu đồng, đặt cọc trước 300 triệu đồng, anh T đồng ý. Ngày 23/5/2016, Nguyễn Sỹ N gặp anh Nguyễn Tất T và anh Nguyễn Văn C t i một quán ăn ở thành phố Hà Tĩnh, có sự tham gia của ông Tr n Nguyên T, N giới thiệu với anh T có ông T là cán bộ lãnh đ o Vụ tổ chức cán bộ - Bộ C ng an. Sau đó anh Nguyễn Hữu T đưa cho N một bộ hồ sơ xin việc của con trai, N hứa hẹn tháng 7/2016 sẽ có quyết định đi làm. Tháng 5/2016, vợ chồng anh Nguyễn Tất T đã chuyển cho Nguyễn Sỹ N hai l n tổng số tiền 300 triệu đồng vào tài khoản của N t i ngân hàng BIDV Hà Tĩnh.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của anh Nguyễn Tất T là 300 triệu đồng, N đưa cho l i ông T 5 triệu đồng, cho l i anh M 10 triệu đồng, số tiền còn l i N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Ông Tr n Nguyên T, anh Vương Khả M đã nộp l i cho Cơ quan điều tra số tiền 15 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i số tiền này cho anh Nguyễn Tất T. Hiện nay, anh Nguyễn Tất T yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 285 triệu đồng.

Lần thứ 13: Vào tháng 6/2016, thông qua ông Nguyễn Như H giới thiệu, chị Dương Thị L đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho con gái là cháu Ngô Thị Huyền T vào làm ở Sở C ng thương Hà Tĩnh. Sau khi trao đổi với N ông H nói l i với chị L là N sẽ xin việc cho cháu T với chi phí hết 200 triệu đồng. Chị Dương Thị L đồng ý và đã đưa cho ng H 200 triệu đồng, nhờ ng H đưa cho N. Sau khi nhận tiền từ chị L, ông H đã đưa cho N hai l n số tiền 200 triệu đồng t i nhà riêng ông H ở phường V, Thành phố H. Ngày 11/11/2016, N bịa ra thông tin là điểm thi của con gái chị L thấp và yêu c u gia đình chị L đưa thêm cho N 40 triệu đồng để N lo việc, chị L đồng ý và nhờ ông H đưa tiếp cho N số tiền 40 triệu đồng.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của chị Dương Thị L là 240 triệu đồng, N cho l i ông H 5 triệu đồng, số tiền còn l i N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Ông Nguyễn Như H đã nộp l i cho cơ quan điều tra số tiền 5 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i số tiền này cho chị Dương Thị L. Hiện nay, chị Dương Thị L yêu cẩu Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 235 triệu đồng.

Lần thứ 14: Tháng 8/2016, Nguyễn Sỹ N gặp và nói với anh Vương Khả P là N có quen lãnh đ o ở Bộ Công an, sẽ xin cho vợ anh P là chị Nguyễn Thị T vào công tác t i C ng an Hà Tĩnh với chi phí hết 850 triệu đồng, đặt cọc trước 800 triệu đồng, hứa đến tháng 9/2016 chị T sẽ có quyết định đi làm, anh P đồng ý và đưa tiền cho N ba l n số tiền là 800 triệu đồng t i thành phố H.

Sau khi nhận tiền của anh P, N sử dụng để đánh b c, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết, không còn khả năng trả l i. Hiện nay anh P yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho anh P số tiền 800 triệu đồng.

Lần thứ 15: Vào khoảng tháng 6/2016, th ng qua ng Dương Đình H giới thiệu, ng Dương Kim H đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho con trai là Dương Hồng S vào ngành Công an. Nguyễn Sỹ N nói với ông H là N sẽ xin cho cháu S vào ngành Công an với chi phí hết 600 triệu đồng, đặt cọc trước 100 triệu đồng, tháng 10/2016 sẽ có quyết định đi làm. Ngày 7/6/2016, ng H nhờ ông H đưa cho N số tiền 100 triệu đồng và ng H đã nhờ con trai là Dương Minh Đ chuyển số tiền này vào tài khoản của Nguyễn Sỹ N t i ngân hàng BIDV Hà Tĩnh. Ngày 29/7/2016, ng Dương Kim H đưa thêm cho N số tiền 200 triệu đồng t i nhà riêng của ông Hoàng.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của ng Dương Kim H là 300 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của ông H, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay, ng Dương Kim H yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho ông H số tiền 300 triệu đồng.

Lần thứ 16: Vào tháng 8/2016, thông qua ông Nguyễn Như H giới thiệu, chị Võ Thị H đã nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho con gái là Trịnh Thị Hằng H vào ngành Công an. Nguyễn Sỹ N nhờ ông H nói với chị H là N sẽ xin cho cháu H vào ngành công an với chi phí hết 400 triệu đồng, đặt cọc trước 200 triệu đồng, đến tháng 9/2016 nếu không có quyết định đi làm N sẽ trả l i tiền. Ông Nguyễn Như H nói l i việc này với chị H, chị H đồng ý và nhờ ông H đưa cho Nguyễn Sỹ N số tiền 200 triệu đồng. Ngày 5/8/2016, sau khi nhận tiền từ chị H, ông H đã đưa số tiền này cho N t i nhà riêng của ông H ở phường V, thành phố H.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của chị Võ Thị H là 200 triệu đồng, N đã sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay chị H yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho chị H số tiền 200 triệu đồng.

Lần thứ 17: Nguyễn Sỹ N có mối quan hệ quen biết với ông Hồ Văn C, tháng 8/2016, N gặp vợ chồng ông C và nói dối là N có nhiều mối quan hệ ngoài Bộ Công an, N có thể xin được việc cho con gái ông C là cháu Hồ Thị Lệ T vào làm ở bệnh xá Công an tỉnh Hà Tĩnh với chi phí hết 400 triệu đồng, c n đặt cọc 300 triệu đồng, tháng 10/2016 sẽ có quyết định đi làm, ng C đồng ý và đưa tiền cho N ba l n số tiền 600 triệu đồng t i nhà riêng của ông C.

Sau khi nhận tiền của ông C, N sử dụng để đánh b c, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay ông Hồ Văn C không yêu c u N phải hoàn trả l i số tiền này.

Lần thứ 18: Nguyễn Sỹ N có mối quan hệ quen biết chị Lê Thị T, tháng 8/2016, chị T nhờ N xin cho cháu Tr n Ngọc M (con nuôi chị T) đi học các trường của ngành Công an. Nguyễn Sỹ N hứa sẽ xin cho cháu M vào học trường Trung cấp an ninh phía Nam với chi phí hết 300 triệu đồng, đặt cọc trước 250 triệu đồng, hẹn tháng 11/2016 sẽ có quyết định nhập học, chị T đồng ý. Ngày 26/8/2016, chị T chuyển 99 triệu đồng vào tài khoản của N t i ngân hàng Vietcombank Hà Tĩnh và đưa trực tiếp cho N 1 triệu đồng tiền mặt. Đến ngày 01/9/2016, chị T đưa trực tiếp cho N 140 triệu đồng t i xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của chị T là 240 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của chị T, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay chị Lê Thị T yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i cho chị số tiền 240 triệu đồng.

Lần thứ 19: Nguyễn Sỹ N là b n học cùng cấp 3 với anh Tr n Văn Đ, anh Đ có em là Võ Văn T đang học trường trung cấp cảnh sát phía Nam chuẩn bị tốt nghiệp, có nguyện vọng muốn xin về công tác Công an huyện Đ, tỉnh L nên anh Đ đã nhờ N xin việc cho em. Nguyễn Sỹ N nói dối với Đ là N có người quen ở Công an tỉnh L có thể giúp được cho em anh Đ với chi phí 50 triệu đồng, anh Đ đồng ý. Ngày 29/8/2016, anh Đ chuyển 50 triệu đồng vào tài khoản của N t i ngân hàng Vietcombank Hà Tĩnh. Đến ngày 06/9/2016, Nguyễn Sỹ N tiếp tục nói dối anh Đ là muốn về Công an huyện Đ phải đưa thêm 50 triệu đồng nữa để lo cho xong việc nên anh Đ chuyển tiếp cho N 50 triệu vào tài khoản ngân hàng Vietcombank của N.

Số tiền N đã lừa đảo chiếm đo t của anh Đ là 100 triệu đồng, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện anh Đ yêu c u N phải trả l i số tiền 100 triệu đồng.

Lần thứ 20: Qua các mối quan hệ xã hội, chị Tr n Thị Hồng V đã liên hệ và nhờ Nguyễn Sỹ N xin cho em gái Tr n Nguyễn Khánh H vào làm việc t i Công an tỉnh Hà Tĩnh, N nói dối với chị V là sẽ xin được với chi phí hết 800 triệu đồng, hẹn tháng 12/2016 sẽ có quyết định đi làm. Chị Tr n Thị Hồng V đồng ý và đưa tiền cho N hai l n tổng số tiền 800 triệu đồng t i thành phố H.

Sau khi nhận tiền của chị V, Nguyễn Sỹ N đã đưa cho vợ là Trương Thị D 120 triệu đồng để chị D mua xe ô tô Mazda 3 (chị Trương Thị D không biết nguồn gốc số tiền này), số tiền còn l i N dùng để đánh b c, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Quá trình điều tra, chị Trương Thị D đã nộp l i cho Cơ quan điều tra số tiền 120 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i số tiền này cho chị Tr n Thị Hồng V. Hiện nay, chị Tr n Thị Hồng V yêu cẩu Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 680 triệu đồng.

Lần thứ 21: Nguyễn Sỹ N có quen biết ng Đặng Thái T, trú t i xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 9/2016, qua ng T giới thiệu chị Tr n Thị H đã nhờ ông T liên hệ với N để xin cho con trai là Nguyễn Trọng B vào học ngành Công an. Nguyễn Sỹ N nói với ông T là N sẽ xin được cho con trai chị H vào học trường Cao đẳng Cảnh sát Giao thông ở Quảng Nam với chi phí hết 400 triệu đồng, c n đặt cọc trước 250 triệu đồng, tháng 11/2016 sẽ có quyết định đi học. Ngày 7/9/2016, vợ chồng chị Tr n Thị H, cháu Nguyễn Trọng B đi cùng ông T vào thành phố Hà Tĩnh đưa cho N số tiền 250 triệu đồng kèm một bộ hồ sơ của cháu B.

Sau khi nhận tiền của chị H, N cho l i ông T 5 triệu đồng, số tiền còn l i N đã sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Ông Đặng Thái T đã nộp l i cho Cơ quan điều tra số tiền 5 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i số tiền này cho chị Tr n Thị H. Hiện nay, chị Tr n Thị H yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 245 triệu đồng.

Lần thứ 22: Vào tháng 10/2016, thông qua chị Tr n Thị Hồng V giới thiệu, chị Lê Thị Thái B đã liên hệ nhờ N xin việc cho em trai là Lê Doãn T vào công tác t i bệnh xá C ng an Hà Tĩnh. Nguyễn Sỹ N nói dối với chị B là N có thể xin được việc cho em chị B vào bệnh xá Công an tỉnh với chi phí hết 100 triệu đồng, c n đặt cọc trước 60 triệu đồng, khi nào có quyết định đưa nốt số tiền còn l i. Ngày 4/10/2016, Chị B đưa cho N số tiền 60 triệu đồng t i thành phố H để N xin việc cho em trai.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t của chị B là 60 triệu đồng, sau khi chiếm đo t bị can sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hiện nay chị B yêu c u N phải trả l i cho chị B số tiền 60 triệu đồng.

Lần thứ 23: Nguyễn Sỹ N là hàng xóm với anh Nguyễn Văn P, tháng 10/2016, anh P có nhờ N làm hồ sơ để “ch y” đền bù thiệt h i thủy hải sản chết do sự cố m i trường biển. Nguyễn Sỹ N nói dối với anh P là N có thể ch y được hồ sơ với chi phí 30 triệu đồng, N hứa trước tết âm lịch năm 2017 sẽ làm hồ sơ xong cho gia đình anh P. Tháng 10/2016, anh Nguyễn Văn P đã đưa cho N 29 triệu đồng t i khu vực Nam c u C, thành phố H.

Số tiền Nguyễn Sỹ N đã chiếm đo t của anh Nguyễn Văn P là 29 triệu đồng, N sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Đến đ u tháng 11/2016, do anh P nhiều l n yêu c u trả l i tiền nên chị Trương Thị D (vợ của N) đã trả l i cho anh P 8 triệu đồng. Hiện nay, anh Nguyễn Văn P yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 21 triệu đồng.

Lần thứ 24: Nguyễn Sỹ N có quan hệ b n bè với anh Trương Hữu D, trú t i thị trấn T, huyện T, N nói với D là N có khả năng xin việc làm vào Ngân hàng Nông nghiệp Hà Tĩnh, anh D biết ai có nhu c u thì giới thiệu cho N. Đ u tháng 11/2016, th ng qua anh Trương Hữu D giới thiệu, chị Tr n Thị Thu H liên hệ với Nguyễn Sỹ N để nhờ N xin việc cho cháu là Tr n Thị Thu T. Nguyễn Sỹ N nói dối với chị H là N sẽ xin được việc cho cháu chị H vào làm ở Ngân hàng nông nghiệp Hà Tĩnh, chi phí là 400 triệu đồng, đặt cọc trước 300 triệu đồng, chị H đồng ý và đã chuyển tiền cho N hai l n 390 triệu đồng.

Trong lúc nhờ Nguyễn Sỹ N xin việc cho cháu T, chị Tr n Thị Thu H còn nhờ N ch y điểm phúc khảo thi vào kho b c tỉnh Hà Tĩnh cho con gái chị Nguyễn Thị M (b n chị H) trú t i phường B, thành phố H. Nguyễn Sỹ N nói dối chị H là N có thể ch y được điểm thi cho con gái chị M với chi phí 300 triệu đồng, đặt cọc trước 200 triệu đồng. Sau đó chị Nguyễn Thị M đã chuyển khoản số tiền 200 triệu đồng vào tài khoản ngân hàng Vietcombank của chị H. Ngày 9/11/2016, sau khi nhận 200 triệu đồng từ chị M thì chị H đã chuyển khoản số tiền 200 triệu đồng vào tài khoản của Nguyễn Sỹ N t i ngân hàng Vietcombank Hà Tĩnh (chị Nguyễn Thị M không biết và không liên hệ trực tiếp với Nguyễn Sỹ N).

Số tiền Nguyễn Sỹ Nhân đã chiếm đo t của chị Tr n Thị Thu H hai l n là 590 triệu đồng. Sau khi nhận tiền của chị H, Nguyễn Sỹ N cho l i anh D 20 triệu đồng, gửi cho anh rể là Ph m Văn T 29 triệu đồng, trả l i tiền xin việc cho chị Nguyễn Thị T 150 triệu đồng, số tiền còn l i N sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.

Sau đó, chị Tr n Thị Thu H đã trả l i số tiền 200 triệu đồng cho chị Nguyễn Thị M, còn N chưa trả l i tiền cho chị H. Anh Trương Hữu D và chị Trương Thị D đã nộp l i số tiền 41 triệu đồng, cơ quan điều tra đã trả l i số tiền này cho chị H. Hiện nay, chị Tr n Thị Thu H yêu c u Nguyễn Sỹ N phải hoàn trả số tiền còn l i là 549 triệu đồng.

Toàn bộ những bộ hồ sơ xin việc mà Nguyễn Sỹ N nhận của những người nêu trên, N đã ném xuống C u N, thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Cơ quan điều tra đã thu giữ và đưa vào hồ sơ vụ án.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t của 24 người là 8.119.000.000 đồng, N đã trả l i cho 06 người 1.223.000.000 đồng (chị Nguyễn Thị T 350 triệu đồng; anh Nguyễn Tiến V 15 triệu đồng; anh Phan Ngọc N 480 triệu đồng; chị Nguyễn Thị Hồng D 170 triệu đồng; Nguyễn Hữu T 200 triệu đồng; anh Nguyễn Văn P 8 triệu đồng). Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả l i cho 08 người bị h i, tổng số tiền là 226 triệu đồng (chị Tr n Thu H 41 triệu đồng; chị Nguyễn Thị T 15 triệu đồng; chị Tr n Thị H 5 triệu đồng; ông Dương Văn L 20 triệu đồng; anh Nguyễn Tất T 15 triệu đồng; anh Ng Văn C 5 triệu đồng; chị Dương Thị L 5 triệu đồng; chị Tr n Thị Hồng V số tiền 120 triệu đồng). Anh Hồ Văn C không yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i số tiền 600 triệu đồng. Số tiền còn l i 6.070.000.000 đồng Nguyễn Sỹ N không có khả năng hoàn trả cho các bị h i. Hiện tất cả những người bị N lừa đảo chiếm đo t tiền đều có yêu c u N phải bồi thường, trừ anh Hồ Văn C.

Ngoài ra, Nguyễn Sỹ N còn vay mượn của 16 cá nhân tổng số tiền 2.260.000.000 đồng và 1000 USD, gồm: ông Nguyễn Văn N số tiền 370 triệu đồng; chị Dương Thị H số tiền 100 triệu đồng; anh Nguyễn Văn C số tiền 100 triệu đồng; anh Lê Hữu C số tiền 40 triệu đồng; chị Tr n Thị H số tiền 70 triệu đồng; chị Phan Thị Ánh D số tiền 70 triệu đồng; anh Hoàng Văn N số tiền 60 triệu đồng; chị Đậu Thị Kim L số tiền 70 triệu đồng; anh Nguyễn Trung K số tiền 60 triệu đồng; anh Nguyễn Hữu C số tiền 50 triệu đồng; anh Đặng Ngọc X số tiền 500 triệu đồng; chị Tr n Thị T số tiền 100 triệu đồng; chị Nguyễn Thị T số tiền 370 triệu đồng; chị Dương Thị L số tiền 200 triệu đồng; anh Nguyễn Tam T số tiền 100 triệu đồng; Nguyễn Thị T số tiền 50 triệu đồng và 1000 USD. Quá trình điều tra xác định đây chỉ là quan hệ vay mượn dân sự nên kh ng đưa vào giải quyết trong vụ án này.

Về vật chứng vụ án :

* Thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ N:

- 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân số 183749146 mang tên Nguyễn Sỹ N;

- 01 (Một) điện tho i di động Iphone 5s, hãng Apple, đã qua sử dụng, số Imei: 352026062382345, trong máy có một sim điện tho i Vinaphone số: 0911431568.

- 01 (Một) điện tho i di động E170 hãng philips, màu vàng, đã qua sử dụng; Số Imei 1: 868922020317372; Số Imei 2: 868922020382376, trong máy có một sim Vinaphone số: 0945742609 và 01 sim không kiểm tra được số thuê bao.

* Thu giữ t i khu vực C u N, thuộc địa phận xóm G, xã T, huyện T, Tỉnh Hà Tĩnh 31 bộ hồ sơ xin việc (Cơ quan điều tra đã thống kê tài liệu trong hồ sơ vụ án).

* Thu giữ của người bị h i và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án các lo i giấy tờ, tài liệu sau:

- Thu t i Lê Anh T, trú t i tổ 4, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh 01 giấy chứng minh C bản gốc mang tên Nguyễn Sỹ N, số hiệu *** – **3 – Cơ quan điều tra đã bàn giao l i giấy chứng minh C cho Phòng tổ chức cán bộ - công an tỉnh quản lý theo quy định.

- 12 giấy chứng minh C (bản Scan) mang tên Nguyễn Sỹ N, số hiệu *** – **3 thu t i người bị h i, người liên quan trong vụ án (Cơ quan điều tra đã thống kê tài liệu trong hồ sơ vụ án).

- 02 thẻ đảng viên (bản Scan) mang tên Nguyễn Sỹ N, số hiệu **.*****7 (CQĐT đã thống kê tài liệu trong hồ sơ vụ án).

- 01 bằng tốt nghiệp Học viện A mang tên Nguyễn Sỹ N; Số hiệu: *****2 thu t i ông Nguyễn Văn N, trú t i Khối 2, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (CQĐT đã trả l i cho bố bị can là ông Nguyễn Sỹ N).

- 01 Quyết định 304 ngày 14/6/2012 của Công an tỉnh Hà Tĩnh thu t i ông Nguyễn Văn N, trú t i Khối 2, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Cơ quan điều tra đã thống kê tài liệu trong hồ sơ vụ án).

* Thu của chị Trương Thị D (sinh 1989, trú t i tổ 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh):

- 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu đỏ, biển số đăng ký: 38A – 137.15, đã qua sử dụng.

- 02 (Hai) chìa khóa xe ô tô Mazda 3.

- 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao th ng cơ giới đường bộ số ******6, của xe Mazda BKS: 38A- ***.*5.

- 01 (Một) biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ số ******5 ngày 10/11/2016, người nộp: Trương Thị D.

- 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm của chủ xe t mang tên Trương Thị D

- tổ 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

Xe ô tô Mazda 3 của chị Trương Thị D và bị cáo Nguyễn Sỹ N hiện đang là tài sản thế chấp t i Ngân hàng ngân hàng Sacombank (theo hợp ồng thế chấp xe ô tô số 18.11.2016/HĐTC-ĐS/SB). Quá trình điều tra chị Trương Thị D đã nộp l i số tiền 120 triệu đồng mà Nguyễn Sỹ N đưa cho chị D mua xe ô tô Mazda3. Do kh ng liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả l i cho chị Trương Thị D những đồ vật, tài sản nêu trên.

Với hành vi trên, t i bản cáo tr ng số 18/CTr – KSĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Sỹ N về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

T i phiên tòa, đ i diện VKS nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, điểm o, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử ph t bị cáo Nguyễn Sỹ N từ 18 đến 20 năm tù.

V dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N bồi thường cho các bị h i tổng số tiền 6.070.000.000 đồng.

V vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước hai chiếc điện tho i thu giữ từ bị cáo mà bị cáo sử dụng vào việc ph m tội.

T i phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

T i phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình. Lời khai của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai có t i hồ sơ, phù hợp với lời khai của người bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có t i hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong thời gian từ cuối năm 2014 đến tháng 11/2016, Nguyễn Sỹ N công tác trong ngành Công an do vay nợ cá độ bóng đá, chơi l đề, tiêu xài cá nhân không có khả năng thanh toán. Với mục đích chiếm đo t tài sản của những người có nhu c u xin việc làm, xin chuyển công tác, ch y điểm thi vào các trường, thi công chức... để lấy tiền trả nợ, tiêu xài cá nhân và chơi l đề, cá độ bóng đá. Nguyễn Sỹ N đã lợi dụng danh nghĩa là cán bộ Công an, bằng thủ đo n gian dối đưa ra th ng tin kh ng đúng sự thật như: N quen biết nhiều người ở Bộ c ng an, Lãnh đ o tỉnh... có khả năng xin vào ngành C ng an, Ngân hàng và các Cơ quan nhà nước, ch y chuyển công tác, ch y điểm... để lừa đảo chiếm đo t của 24 người trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An và Bình Dương với tổng số tiền 8.119.000.000 đồng (tám t , một trăm m i chín tri u ồng). Trong quá trình Nguyễn Sỹ N thực hiện hành vi ph m tội, phát hiện bị lừa nên những người đã đưa tiền cho N yêu c u trả l i tiền thì N mới trả l i một ph n trong tổng số tiền đã chiếm đo t cho 06 người là 1.223.000.0000 đồng, số tiền còn l i 6.070.000.000 đồng (đã trừ 600 triệu đồng anh Hồ Văn C không yêu c u).

Hành vi dùng thủ đo n gian dối, đưa ra th ng tin sai sự thật để lừa đảo nhằm chiếm đo t tài sản của 24 người bị h i với tổng số tiền 8.119.000.000 đồng, của Nguyễn Sỹ N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”. Vì vậy, cáo tr ng số 18/CTr-KSĐT ngày 16/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Sỹ N theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi ph m tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện hành vi ph m tội nhiều l n, đã xâm ph m quyền sở hữu của c ng dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt h i nặng nề về kinh tế đối với nhiều người, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây hoang mang trong qu n chúng nhân dân. Vì vậy, c n xét xử bị cáo với mức án nghiêm, nhằm cải t o giáo dục bị cáo và răn đe chung đối với xã hội.

Tuy nhiên, c n xem xét giảm nhẹ một ph n trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Sỹ N, vì bị cáo có nhân thân tốt, khi nhận thức được hành vi sai ph m bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan điều tra tự thú; quá trình điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo; hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, con còn nhỏ, vợ không có việc làm, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm o, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình ph t vị đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố t i phiên tòa đề nghị xử ph t bị cáo Nguyễn Sỹ N từ 18 đến 20 năm tù là có ph n nặng, nên c n xem xét để xử bị cáo mức hình ph t thấp hơn hình ph t do đ i diện Viện kiểm sát đề nghị.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự c n tiếp tục t m giam bị cáo Nguyễn Sỹ N để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Liên quan trong vụ án còn có:

- Trong quá trình điều tra Nguyễn Sỹ N khai đã sử dụng số tiền lừa đảo chiếm đo t được đánh b c dưới hình thức l đề, cá độ bóng đá với: Hoàng Thị Y, Nguyễn Trí K, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Quang V, Nguyễn Thị T. Cơ quan điều tra đã xác minh t i ngân hàng có giao dịch chuyển tiền giữa Nguyễn Sỹ N với các đối tượng trên. Tuy nhiên, Nguyễn Quang V và Nguyễn Thị T không thừa nhận đã đánh b c với N, số tiền N chuyển là tiền N trả nợ, nên chưa đủ cơ sở kết luận về hành vi đánh b c. Còn đối tượng khác, Hoàng Thị Y, Nguyễn Trí K, Nguyễn Hoàng N, Cơ quan điều tra đã triệu tập để làm việc nhưng kh ng có mặt t i địa phương, đi đâu, làm gì thì gia đình và chính quyền địa phượng không rõ. Vì vậy, cơ quan điều tra tách hành vi này để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

- Đối với ông Tr n Nguyên T, ngày 23/5/2016, có tham gia cùng Nguyễn Sỹ N khi N đang thực hiện hành vi lừa đảo anh Nguyễn Tất T ở Bình Dương, khi N giới thiệu ông T là cán bộ của Bộ Công an với anh T để làm tin thì ông T không có phản ứng gì và đồng ý với ý đồ của N. Tuy nhiên, ông Tr n Nguyên T không biết mục đích N giới thiệu ông T là cán bộ Bộ C ng an là để lừa đảo chiếm đo t tài sản của anh T. Bản thân ng T nghĩ N có khả năng xin việc làm vì trước đó ng T cũng đã nhờ N xin việc cho người quen của ông T. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét vai trò đồng ph m với Nguyễn Sỹ N của ông Tr n Nguyên T trong vụ án này.

- Đối với ông Nguyễn Như H, Nguyễn Quốc T, Đặng Thái T, Vương Khả M, Trương Hữu D và Tr n Nguyên T có hành vi giới thiệu cho Nguyễn Sỹ N những người có nhu c u xin việc làm và N có cho những người giới thiệu số tiền từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng là tiền chi phí đi l i, tiền điện tho i, cảm ơn việc giới thiệu. Nguyễn Sỹ N có đưa cho vợ là chị Trương Thị D số tiền 120 triệu đồng để mua xe t , đưa cho anh rể Ph m Văn T giữ hộ số tiền 29 triệu đồng. Tuy nhiên, những người này không biết Nguyễn Sỹ N có hành vi lừa đảo chiếm đo t tài sản, không biết đây là tài sản do bị cáo ph m tội có được nên kh ng có sơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ. Hiện nay những người này đã tự nguyện giao nộp l i toàn bộ số tiền nói trên để trả l i cho bị h i.

- Đối với những người đã đưa tiền cho Nguyễn Sỹ N để nhờ “xin việc” cũng có một ph n lỗi, là hành vi sai trái, đáng phải lên án. Tuy nhiên, khi đưa tiền cho Nguyễn Sỹ N những người này cũng kh ng biết N sẽ đưa cho ai, do vậy quá trình điều tra xác định kh ng đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ.

- Trong vụ án này chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1982; trú t i xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh); chị Hoàng Thị H (sinh năm 1957; trú t i phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An); Chị Nguyễn Thị M (sinh năm 1968; Trú t i phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh) là những người th ng qua người khác để đưa tiền cho Nguyễn Sỹ N, bản thân họ không biết Nguyễn Sỹ N là ai, nên xác định họ là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

* Về phần dân sự: Tổng số tiền Nguyễn Sỹ N đã lừa đảo chiếm đo t của 24 người là 8.119.000.000 đồng, N đã trả l i cho 06 người 1.223.000.000 đồng (chị Nguyễn Thị T 350 triệu đồng; anh Nguyễn Tiến V 15 triệu đồng; anh Phan Ngọc N 480 triệu đồng; chị Nguyễn Thị Hồng D 170 triệu đồng; anh Nguyễn Hữu T 200 triệu đồng; anh Nguyễn Văn P 08 triệu đồng). Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả l i cho 08 người bị h i, tổng số tiền là 226 triệu đồng (chị Tr n Thu H 41 triệu đồng; chị Nguyễn Thị T 15 triệu đồng; chị Tr n Thị H 05 triệu đồng; ng Dương Văn L 20 triệu đồng; anh Nguyễn Tất T 15 triệu đồng; anh Ng Văn C 05 triệu đồng; chị Dương Thị L 05 triệu đồng; chị Tr n Thị Hồng V số tiền 120 triệu đồng).

T i phiên toà anh Hồ Văn C v ng mặt, tuy nhiên căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án thì quá trình điều tra anh C không yêu c u Nguyễn Sỹ N phải trả l i số tiền 600 triệu đồng bị N chiếm đo t, nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo bồi thường số tiền này cho anh C.

Số tiền còn l i 6.070.000.000 đồng, hiện tất cả những người bị N lừa đảo chiếm đo t tiền đều có yêu c u N phải bồi thường. Căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 c n buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N phải có nghĩa vụ bồi thường cho những người bị h i toàn bộ số tiền do nhân chiếm đo t chưa được bồi thường và có yêu c u bồi thường.

* Về vật chứng:

Đối với các vật chứng chưa xử lý c n áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:

- Đối với 01 Giấy chứng minh nhân dân số ********6 mang tên Nguyễn Sỹ N. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên c n trả l i cho bị cáo.

- Tịch thu sung c ng qũy Nhà nước 02 chiếc điện tho i mà quá trình ph m tội bị cáo đã sử dụng liên l c với những người bị h i, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: 01 (Một) điện tho i di động Iphone 5s, hãng Apple, đã qua sử dụng, số Imei: 352026062382345, trong máy có một sim điện tho i Vinaphone số: 0911431568; 01 (Một) điện tho i di động E170 hãng philips, màu vàng, đã qua sử dụng; Số Imei 1: 868922020317372; Số Imei 2: 868922020382376, trong máy có một sim Vinaphone số: 0945742609 và 01 sim không kiểm tra được số thuê bao.

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sỹ N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ N ph m tội: "Lừa đảo chiếm đo t tài sản":

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999:

Xử ph t bị cáo Nguyễn Sỹ N 17 (mười bảy) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày b t t m giữ, t m giam bị cáo (ngày 22/11/2016).

2. Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N phải bồi thường thiệt h i cho người bị h i số tiền chưa được bồi thường và có yêu c u bồi thường, cụ thể: Bồi thường cho anh Nguyễn Sỹ H 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho anh Tr n Nguyên T 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); bồi thường cho anh Tr n Văn L 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Phan Ngọc N 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Ngô Văn C 395.000.000 đồng (ba trăm chín mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho ông Dương Văn L 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Tiến V 505.000.000 đồng (năm trăm linh năm triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Văn T 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Tất T 285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho chị Dương Thị L 235.000.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho anh Vương Khả P 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng); bồi thường cho ng Dương Kim H 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng); bồi thường cho chị Võ Thị H 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); bồi thường cho chị Lê Thị T 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Tr n Văn Đ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); bồi thường cho chị Tr n Thị Hồng V 680.000.000 đồng (sáu trăm tám mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Tr n Thị H 245.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho chị Lê Thị Thái B 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Văn P 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triêu đồng); bồi thường cho chị Tr n Thị Thu H 549.000.000 đồng (năm trăm bốn mươi chín triệu đồng).

Tr ng hợp bản án, quyết ịnh ợc thi hành theo qu ịnh t i Đi u 2 luật thi hành án dân sự thì n i ợc thi hành án dân sự, n i phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qu ịnh t i các Đi u 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hi u thi hành án ợc thực hi n theo quy ịnh t i Đi u 30 Luật thi hành án dân sự.

Sau khi án có hi u lực pháp luật kể từ n à bên ợc thi hành án có ơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành khôn ầ ủ thì phải chịu trả lãi ối với số ti n chậm trả theo lãi suất qu ịnh t i khoản 2 Đi u 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả l i cho Nguyễn Sỹ N 01 Giấy chứng minh nhân dân số ********6 mang tên Nguyễn Sỹ N.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện tho i di động thu giữ của Nguyễn Sỹ N, gồm: 01 (một) điện tho i di động Iphone 5s, hãng Apple, đã qua sử dụng, số Imei: 352026062382345, trong máy có một sim điện tho i Vinaphone số: 0911431568 và 01 (Một) điện tho i di động E170 hãng philips, màu vàng, đã qua sử dụng; Số Imei 1: 868922020317372; Số Imei 2: 868922020382376, trong máy có một sim Vinaphone số: 0945742609 và 01 sim không kiểm tra được số thuê bao.

Tình tr ng cụ thể các vật chứng có t i biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2017 giữa Cơ quan cảnh sát i u tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Hi n vật chứn an

ợc l u iữ t i Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Pháp lệnh 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 132.700.000 đồng án phí dân sự.

Bị cáo, người bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ