- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCPSGTT, buộc ông Ngô Trương V phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 03/12/2021 theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 27/10/2016 và ngày 23/01/2017 là 45.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2297/2021/DS – ST. Ngày: 03/12/2021. V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vi Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Vạn.
2. Bà Nguyễn Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Quốc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9 cũ), thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 673/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2020 (của Tòa án nhân dân Quận 9 cũ) về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4461/2021/QĐXXST - DS ngày 11 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5155/2021/QĐST - DS ngày 09 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCPSGTT.
Địa chỉ: N, Phường J, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M – sinh năm: 1970.
Địa chỉ: khu phố A, phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền số 125/2021/UQ-TTT ngày 02/3/2021).
2. Bị đơn: Ông Ngô Trương V – sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường H, tổ F, khu phố T, phường B, thành phố Thủ Đức (Quận 9 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 12 năm 2020 của nguyên đơn Ngân hàng TMCPSGTT (viết tắt là Ngân hàng), lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lã Ngọc M trình bày:
Ngày 27/10/2016, ông V có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Credit Classic 472074 - 6833. Sau một thời gian sử dụng, đến ngày 23/01/2017 ông V có đăng ký thêm thẻ JCB Motor Card Classic 356480-6628. Hạn mức sử dụng mỗi thẻ là 22.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 2.15%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Số tiền thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng là ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau.
Sau khi được cấp 02 thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 299.670.086 đồng cụ thể: thẻ Visa Credit Classic 472074 - 6833 là 64.426.074 đồng, thẻ JCB Motor Card Classic 356480-6628 là 235.244.012 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt cho đến nay, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 297.586.057 đồng. Trong đó: thẻ Visa Credit Classic 472074 - 6833 là 66.958.000 đồng, thẻ JCB Motor Card Classic 356480-6628 là 230.628.057 đồng.
Do ông vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 01/5/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa Credit Classic 472074 – 6833; thẻ JCB Motor Card Classic 356480-6628 ngày 01/4/2020 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 25/10/2020, thẻ Visa Credit Classic 472074 – 6833 ông V còn nợ số tiền gốc là 2.716.502 đồng, lãi quá hạn 628.518 đồng; thẻ JCB Motor Card Classic ông V còn nợ số tiền gốc là 22.428.220 đồng, lãi quá hạn 6.064.656 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông V có trách nhiệm thanh toán. Tuy nhiên, ông V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Trương V trả một lần cho Ngân hàng ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực toàn bộ số tiền nợ 45.043.848 đồng, bao gồm các khoản sau:
- Đối với thẻ Visa Credit Classic 472074 – 6833, tính đến ngày 03/12/2021, ông V còn nợ số tiền gốc là 2.716.502 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.055.042 đồng. Tổng cộng là 4.771.544 đồng.
- Đối với thẻ JCB Motor Card Classic, tính đến ngày 03/12/2021, ông V còn nợ số tiền gốc là 22.428.220 đồng, nợ lãi quá hạn là 17.844.084 đồng. Tổng cộng là 40.272.304 đồng.
Và ông Ngô Trương V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 04/12/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là ông Ngô Trương V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông V đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của ông V đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông V vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 12 năm 2020, Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Trương V phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay (gồm tiền gốc và tiền lãi quá hạn) mà ông V vay theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 27/10/2016 và 23/01/2017, nên đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Do bị đơn cư trú tại thành phố Thủ Đức (Quận 9 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (Quận 9 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Ngô Trương V đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với hợp đồng vay tài sản và nghĩa vụ trả nợ:
Theo nội dung Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 27/10/2016, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Credit Classic 472074 - 6833 và ngày 23/01/2017 ông V có đăng ký thêm thẻ JCB Motor Card Classic 356480-6628. Hạn mức sử dụng mỗi thẻ là 22.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 2.15%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 01/5/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Kể từ đó đến nay, ông V không thanh toán số tiền nợ nêu trên. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông V đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án.
Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Trương V phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 03/12/2021 là 45.043.848 đồng, bao gồm các khoản sau: Đối với thẻ Visa Credit Classic 472074 – 6833, ông V còn nợ số tiền gốc là 2.716.502 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.055.042 đồng và đối với thẻ JCB Motor Card Classic, ông V còn nợ số tiền gốc là 22.428.220 đồng, nợ lãi quá hạn là 17.844.084 đồng. Trả một lần cho Ngân hàng ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Trương V phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 2.252.192 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCPSGTT, buộc ông Ngô Trương V phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 03/12/2021 theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 27/10/2016 và ngày 23/01/2017 là 45.043.848 đồng, bao gồm các khoản sau: Đối với thẻ Visa Credit Classic 472074 – 6833 ông V còn nợ số tiền gốc là 2.716.502 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.055.042 đồng và đối với thẻ JCB Motor Card Classic ông V còn nợ số tiền gốc là 22.428.220 đồng, nợ lãi quá hạn là 17.844.084 đồng. Trả một lần cho Ngân hàng TMCPSGTT ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Ngô Trương V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCPSGTT thì lãi suất mà ông Ngô Trương V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCPSGTT theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCPSGTT.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ngô Trương V phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 2.252.192 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng TMCPSGTT không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân hàng TMCPSGTT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 795.948 đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0047331 ngày 23/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (cũ) nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKS TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vi Na |