vanban.org

Bản án 229/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thành K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/10/2024. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành K 5.000.000 đồng (năm triệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST
Ngày 24 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Trang 2. Ông Vũ Tiến Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Phương - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cá o:

Nguyễn Thành K, sinh ngày 01/3/2000, tại Thái Bình;

Nơi cư trú: thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thành K1, sinh năm 1965 và bà: Bùi Thị G, sinh năm 1966; vợ: Dương Khánh H, sinh năm 1999 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/10/2024 đến ngày 13/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Trích xuất có mặt tại phiên toà)

Người chứng kiến: 1. Anh Vũ Hồng V, sinh năm 1977, trú tại: tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. 2. Ông Phạm Đình D, sinh năm 1958, trú tại: tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Đều vắng mặt tại phiên toà). NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 07/10/2024, Nguyễn Thành K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số 17B9- 468.03 từ nhà đến khu vực chân cầu V thuộc địa phận xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. K cất túi ma túy vừa mua vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Đến 17 giờ 45 phút cùng ngày K đang dừng xe ở khu vực Quảng trường thuộc tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh T đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Vũ Hồng V và ông Phạm Đình D, Nguyễn Thành K đã tự giác lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt, có mép cài bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá của K vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định.

Sau đó, tổ công tác đã mời những người chứng kiến và yêu cầu K về trụ sở Công an phường H, thành phố T để làm việc. Tại đây, kiểm tra người cùng chiếc xe máy do K điều khiển không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành K tại thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật tài sản gì.

Tại bản kết luận giám định số 1529/KL-KTHS, ngày 11/10/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T đã kết luận: mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,1976 gam (Một phẩy một nghìn chín trăm bảy mươi sáu gam). Methamphetamine. STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành K cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Bản cáo trạng số 232/CT-VKSTPTB ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Thành K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Thành K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 35, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng nộp Ngân sách nhà nước. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo : Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đú ng như nộ i dung Cá o trạ ng và phù hợp với cá c lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lờ i khai củ a người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứ ng cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 07/10/2024 tại trụ sở Công an phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình (bút lục số 03 - 04; 44 - 45).

- Bản kết luận giám định số 1529/KL-KTHS, ngày 11/10/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T (bút lục số 49);

Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 07/10/2024 tại khu vực Quảng trường thuộc tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thành K có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,1976 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Vì vậy, bị cáo Nguyễn Thành K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…………….

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

……………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ. [3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy : Hành vi của bị cáo là nguy hiể m cho xã hộ i, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy , làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tạ i đị a phương . Mặc dù độ ng cơ phạ m tộ i xuấ t phá t từ việ c n ghiệ n chấ t ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự , nhận thức rõ tác hại của ma túy song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiệ n ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộ c loạ i tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứ ng vớ i hà nh vi bị cá o đã gây ra.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củ a bị cá o đã phân t ích trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thờ i gian nhất định trên mứ c đề nghị của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t tại phiên tòa là phù hợp , nhằm cả i tạ o, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ số lượng Methamphetamine khá lớn nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Thành K khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi nhưng không biết tên, tuổi và địa chỉ tại khu vực cầu V, thuộc xã V, thành phố T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với 1,1976 gam ma túy, loại Methamphetamine sau khi lấy mẫu giám định còn 1,1028 gam mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Thành K trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1529/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T, xét đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng đen, biển số 17B9- 468.03. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị G (mẹ đẻ K), K mượn đi bà G không biết K sử dụng để đi mua ma túy, ngày 28/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra quyết định trả lại chiếc xe máy cho bà G nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thành K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/10/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành K 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 1,1028 gam (một phẩy một nghìn không trăm hai mươi tám gam) Methamphetamine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1529/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh T.

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 15 giờ 00 phút ngày 21/11/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thành K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Thành K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/12/2024)./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị P

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ