vanban.org

Bản án 229/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2020. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2020/HS-ST
Ngày: 01 - 12 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Văn Tốt.

2/ Ông Nguyễn Văn Quản.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạo – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 241/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 915/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thị H; giới tính: Nữ; sinh năm: 1983; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: phường TTN, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 11/12; con ông Lê Doãn Khắc C và bà Lê Thị Hồng S; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2020 đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 28/7/2020, Lê Thị H điều khiển xe mô tô biển số 59G2-739.21 đến khu vực chùa VP, phường TTN, Quận 12. Hoàng nhờ người thanh niên tên L (không rõ lai lịch) mua 700.000 đồng ma túy tổng hợp để sử dụng. L đi mua về giao cho H 09 gói ma túy tổng hợp. Đến 10 giờ 30 phút ngày 29/7/20020, H lấy 09 gói ma túy tổng hợp bỏ vào túi quần đang mặc và điều khiển xe mô tô nêu trên đi tìm nơi sử dụng. Khi H đi đến bãi đất trống trên Quốc lộ 1A, Khu phố 3, phường THT, Quận 12 thì bị Công an bắt quả tang thu giữ 09 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 điện thoại di động hiệu Iphone và xe mô tô biển số 59G2-739.21.

Theo Kết luận giám định số 1306/KLGĐ-H ngày 06/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 09 gói nylon (để trong 01 gói nylon) được niêm phong bên ngoài có dấu tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Thị H và hình dấu Công an phường THT, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6981g, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

01 gói nylon bên trong có 09 gói nylon chứa tinh thể không màu.

01 điện thoại di động hiệu Iphone, Model: A1661; không rõ số Imei.

01 xe mô tô biển số 59G2-739.21, số khung: RLHJF5822KY105651, số máy: JF86E-0335657, Lê Thị H đứng tên chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số 222/CT-VKS ngày 23/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với người tên L và người bán ma túy (chưa rõ lai lịch), Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét để xử lý sau.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội thì tịch thu, tiêu hủy hoặc nộp ngân sách nhà nước. Vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội thì trả lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/7/2020 tại bãi đất trống trên Quốc lộ 1A, Khu phố 3, phường THT, Quận 12, Công an thu giữ của Lê Thị H 09 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6981g, loại Methamphetamine để sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, hành vi của bị cáo không có thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người tên L và người bán ma túy (chưa rõ lai lịch), Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để xử lý nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

01 gói niêm phong chứa ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô biển số 59G2-739.21, bị cáo là chủ sở hữu, bị cáo dùng đi mua ma túy sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2020.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ma túy (vụ số 1306)

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 59G2-739.21, số khung: RLHJF5822KY105651, số máy: JF86E-0335657.

Trả lại cho bị cáo Lê Thị H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, Model: A1661; không rõ số Imei.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 172/QĐ-VKS ngày 23/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ