vanban.org

Bản án 229/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thẩm Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thẩm Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2019/HSST
Ngày: 14/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Lan và bà Vũ Thúy Hậu.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 14/10/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 249/2019/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2019/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Thẩm Minh Đ, sinh năm 1999; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: Tổ 11, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi ở: Ngách 32, ngõ 19 Đông Tác, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông: Thẩm Thái Ch, sinh năm 1972; con bà: Đinh Thị Minh L, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 11/7/2019, tạm giữ ngày 12/7/2019, hiện đang tạm giam tại Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội và có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đào Duy Ph, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Thôn Thống Nhất, xã Thủy Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên;

Trú tại: Ngõ 234 Hoàng Quốc Việt, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

- Anh Phạm Công S, sinh năm 1999; trú tại: Thôn Công An, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 11/7/2019 Thẩm Minh Đ giao bán cần sa trên mạng xã hội thì Đào Duy P đặt mua 02 túi cần sa với giá 450.000 đồng/1 túi. Đ và P hẹn 17 giờ 30 cùng ngày tại gần quán Karaoke 5 Sao ở 473 Hoàng Quốc Việt, phường Cổ Nhuế 1, quận bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để mua bán ma túy.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Đ mua 03 túi cần sa với giá 300.000 đồng/1 túi của người không quen biết trên mạng xã hội facebook. Sau khi mua được ma túy Đ đã sử dụng hết 01 túi, còn 02 túi để bán cho P.

Khoảng 17 gờ cùng ngày Đ và Phạm Công S điều khiển xe máy Honda Wave Alpha màu đen BKS 11H1-050.31 đến đểm hẹn bán 2 túi ma túy cần sa cho P, khi P đưa Đ 500.000 đồng thì bị Công an phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội bắt quả tang, vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Đ: Tại túi quần bên trái của Đ đang mặc 02 túi nilông màu trắng, trên tay phải của Đ 500.000 đồng, 02 điện thoại di động và xe máy Honda Wave Alpha màu đen BKS 11H1-050.31.

Thu giữ của P: 01 điện thoại di động và 400.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 4542/KLGĐ-PC09 ngày 19/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Thảo mộc khô bên trong 02 túi ni lông đều là Cần sa, tổng khối lượng 3,554 gam.

Quá trình điều tra, Đ khai nhận hành vi như trên; đối với đối tượng bán ma túy cho Đ không xác định được nhân thân lai lịch; đối với Sơn, Sơn và Đ đều khai khi đi cùng Đ, S không biết việc Đ mang ma túy trong người để bán nên không có căn cứ xử lý đối với S và đối tượng bán ma túy cho Đ.

Đối với xe máy Honda Wave Alpha màu đen BKS 11H1-050.31 của ông Đặng Văn Th, ông Th cho con trai là anh Đặng Quốc Kh, anh Kh cho Đ mượn để đi làm, không biết Đ sử dụng để đi mua, bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả anh Kh, anh Kh không có ý kiến gì về dân sự.

Đối với Đào Duy P chưa kịp nhận ma túy và âm tính với chất ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với P.

Tại bản cáo trạng số: 227/CT-VKSBTL ngày 23 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Thẩm Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 26 đến 30 tháng tù, không phạt bổ sung bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ, tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động Nokia và 900.000 đồng; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung DUOS.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Thẩm Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 11/7/2019 Thẩm Minh Đ mua 3 túi ma túy cần sa qua mạng xã hội của một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 300.000 đồng/1 túi, Đ đã sử dụng hết một túi, còn 02 túi ma túy cần sa có tổng khối lượng 3,554 gam Đ bán cho Đào Duy P với giá 450.000 đồng/1 túi vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 11/7/2019 tại số 473 Hoàng Quốc Việt, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang.

Hành vi mua ma túy về bán trái phép cho người khác của bị cáo đã phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm. Chỉ vì tư lợi, bị cáo đã coi thường pháp luật, công khai mua bán ma túy qua mạng xã hội đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; có ông bà ngoại được tặng thưởng huân huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Thẩm Minh Đ và giám định viên thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số sim 0587940930; 01 điện thoại Nokia 110i số sim 0948816776 đều đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, và đều là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 900.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại Samsung DUOS màu vàng vỡ màn hình, số sim 0355443921 không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Thẩm Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

3. Xử phạt bị cáo Thẩm Minh Đ 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2019.

4. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Thẩm Minh Đ và giám định viên.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số sim 0587940930 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

+ 01 điện thoại Nokia 110i số sim 0948816776 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

+ 900.000 đồng.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung DUOS màu vàng vỡ màn hình, số sim 0355443921, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 253/19 ngày 23/9/2019 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .

Cỡ chữ