- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Anh T - Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Cao Anh T3 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Lê Đình G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI Bản án số: 228/2025/HS-ST Ngày: 14 – 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TP . HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Trung và bà Nguyễn Thị Hồng Ninh
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 220/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2025/QĐXXST-HS ngày 30/10/2025 đối với các bị cáo:
1. CAO ANH T – sinh năm: 1982; HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã B, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; con ông Cao Khắc T (Đã chết) và bà Vũ Thị T1; Vợ: Bế Thị D (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2006; TATS: Theo danh chỉ bản số 1956 ngày 07/8/2025 PC11B(L) của Công an thành phố H lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân:
- Bản án HSST số 57 ngày 27/6/2007, TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp trị giá 2.000.000 đồng). Đã nộp án phí HSST ngày 21/11/2007. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2009. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Bản án HSST số 219 ngày 05/9/2014, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 34 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2017. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Bản án HSST số 309 ngày 21/11/2019, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 14/8/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/2022. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 25/9/2024, đi cai nghiện tự nguyện 06 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội, đến 25/3/2025 về địa phương.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 29/7/2025, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. (Có mặt)
2. LÊ ĐÌNH G – sinh năm: 1991; HKTT và chỗ ở: Tổ C phường L, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; Con ông Lê Đình T2; Con bà Nguyễn Thị N; TATS: Theo danh chỉ bản số 1955 ngày 07/8/2025 PC11B(L) của Công an thành phố H lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân:
- Ngày 11/3/2024, Công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 350.000 đồng (đã hết thời hiệu).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/7/2025, tạm giữ từ ngày 29/7/2025, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn L - SN: 1985, HKTT: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h40’ ngày 28/7/2025, tổ công tác Phòng chống tội phạm Công an xã B, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường G thuộc xã B phát hiện Lê Đình G (SN: 1991, đăng ký TT: Tổ C phường L, Hà Nội) đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, G tự nguyện giao nộp 01 túi nilong quấn băng dính màu đỏ bên trong là gói giấy chứa chất bột màu trắng và khai nhận là ma túy Heroine mua về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật và đưa G về trụ sở làm việc.
Cơ quan điều tra tạm giữ của G:
- 01 gói nhỏ bọc băng dính màu đỏ, bên trong là gói giấy (loại vỏ thuốc lá Thăng Long) bên trong là chất bột màu trắng.
- 01 máy tính bảng nhãn hiệu S (2016) vỏ lưng màu đen đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình (kiểm tra phát hiện tin nhắn với tài khoản Tuancao liên quan đến mua ma túy).
Tại Kết luận giám định số 4577 ngày 07/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng 01 gói giấy (loại giấy vỏ thuốc lá Thăng L1) bọc bên ngoài bằng băng dính màu đỏ là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,213 gam.
- Trong mẫu nước tiểu của Lê Đình G thu ngày 29/7/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine và ma túy loại Methadone, có chất EDDP (EDDP là chất chuyển hóa của M trong cơ thể người).
Tại Cơ quan điều tra, Lê Đình G khai: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 11h30’ ngày 28/7/2025, G sử dụng máy tính bảng nhãn hiệu S1 A đăng nhập tài khoản Zalo “T” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Tuancao” của một người tên T3 để hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine mục đích sử dụng cho bản thân. T3 đồng ý và hẹn đến nhà T3 tại Thôn C xã B, Hà Nội để giao dịch. Khi đến nơi, G cầm trên tay phải 03 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ đưa qua lỗ khóa cửa cho T3, đồng thời dùng tay trái nhận 01 gói nhỏ bọc băng dính màu đỏ bên trong là gói giấy loại vỏ thuốc lá Thăng Long chứa ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, G cất trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực đường G, xã B, Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, G đã tự nguyện giao nộp gói ma túy trên và khai nhận là của mình mua để sử dụng cho bản thân. Lực lượng công an đã lập biên bản tạm giữ và đưa G về trụ sở làm việc.
Lời khai của G phù hợp với lời khai người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Lê Đình G nhận dạng đối tượng T3 bán ma túy, kết quả G nhận dạng được và khẳng định là Cao Anh T3 (SN: 1982, HKTT: Thôn C xã B, Hà Nội).
Cơ quan điều tra thân dẫn G để xác định địa điểm mua ma túy, kết quả xác định là nhà của Cao Anh T3 tại Thôn C xã B, Hà Nội.
Cùng thời điểm thân dẫn G, Cơ quan điều tra phát hiện Hoàng Văn L (SN: 1985, HKTT: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên) đang có mặt tại nhà của T3 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Tại chỗ L khai đến nhà T3 để mua 500.000 đồng ma túy Heroine nhưng T3 không ở nhà nên chưa mua được. Cơ quan điều tra đưa L về trụ sở để làm việc.
Cơ quan điều tra thu giữ của L: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15 màu xanh tím than đã qua sử dụng, lắp sim 0966903190.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn L khai: L đang làm nghề lái xe ô tô chuyên chở nhựa bê tông làm đường tại Hà Nội khoảng 01 tháng nay và đang ở trọ tại Tổ D phường L, Hà Nội. Quá trình làm việc tại Hà Nội, L được một người đàn ông không quen biết chỉ đến nhà của Cao Tuấn A để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khoảng 09h20’ ngày 28/7/2025, L sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A15 đăng nhập tài khoản Zalo “Hoàng L” liên hệ đến tài khoản Zalo “Tuân Đông D” của Cao Anh T3 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine, T3 đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của Cao Anh T3 tại Thôn C xã B, Hà Nội. L thanh toán tiền mua ma túy bằng cách chuyển khoản 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M1 số 6868688866689 của L đến tài khoản ngân hàng V số 102880165965 của T3. Sau đó L đến nhà T3 và nhận qua khe cửa cổng từ T3 01 gói ma túy Heroine quấn băng dính đen. L sử dụng hết số ma túy trên cho bản thân. Đến 16h00’ cùng ngày, L đi bộ đến nhà T3 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine nhưng chưa mua được thì bị Công an xã B kiểm tra hành chính.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Hoàng Văn L nhận dạng đối tượng bán ma túy, kết quả L nhận dạng được và khẳng định là Cao Anh T3 (SN: 1982, HKTT: Thôn C xã B, Hà Nội).
Cơ quan điều tra tiến hành mời Cao Anh T3 đến trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T3 khai nhận: Do T3 nghiện ma túy và cần tiền tiêu xài nên T3 nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và bán ma túy kiếm lời cho khách có nhu cầu. Ngày 25/7/2025, T3 đi bộ đến khu vực xã V, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, T3 gặp và mua 1.000.000 đồng ma túy Heroine, ma túy đá và viên nén ma túy tổng hợp của một người đàn ông tên H (không rõ đầy đủ họ tên và địa chỉ). Khoảng 09h20’ ngày 28/7/2025, T3 đang ở nhà thì Hoàng Văn L gọi điện đến số điện thoại 0981715382 và tài khoản Zalo “Tuan Cao” của T3 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy H1, T3 đồng ý và bảo L chuyển khoản trước đến tài khoản ngân hàng V1 số 102880165965 của T3. Sau khi nhận được tiền, T3 bảo L đến nhà T3 tại Thôn C, xã B, Hà Nội để giao dịch. Khi L đến, T3 đưa qua khe cửa cổng 01 gói ma túy Heroine quấn băng dính đen cho L. Đến khoảng 13h00’ cùng ngày, Lê Đình G nhắn tin qua Zalo đến tài khoản Z “Tuan Cao” của T3 hỏi mua 300.000 đồng ma túy H1, T3 đồng ý và hẹn G đến nhà T3 giao dịch. Khi G đến, T3 nhận 03 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ của G và đưa qua khe cửa cổng cho G 01 gói ma túy Heroine quấn băng dính màu đỏ.
Đối với ma túy đá và ma túy tổng hợp, T3 mang về nhà cất giấu trong phòng ngủ tại tầng 1. Sáng ngày 26/7/2025, khi con gái T3 đi học, không có ai ở nhà, T3 lấy ma túy đá và viên nén ma túy tổng ra sử dụng cho bản thân. T3 sử dụng 01 coóng thủy tinh (mua trên mạng xã hội), 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa (có sẵn trong nhà) để sử dụng ma túy. T3 đổ nước vào chai nhựa, cho toàn bộ ma túy vào 01 coóng thủy tinh và dùng bật lửa hơ nóng coóng để ma túy tan thành khí. Khí ma túy được sục qua nước trong chai nhựa và T3 sử dụng ống hút nhựa để hút qua mũi vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy, T3 đã vứt bỏ toàn bộ coóng, chai và ống hút nhựa, không nhớ nơi vứt. Bản thân T3 vừa đi cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội về địa phương ngày 25/3/2025 và đang trong thời gian UBND xã B, Hà Nội quản lý sau cai nghiện.
Lời khai của Cao Anh T3 phù hợp với lời khai của Lê Đình G và Hoàng Văn L, với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cơ quan điều tra tạm giữ của T3: 01 điện thoại di động Iphone 11 64Gb màu trắng có ốp màu đen, lắp sim điện thoại 0981715382.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Anh T3 tại Thôn C xã B, Hà Nội, phát hiện thu giữ: 03 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ (T3 khai là tiền bán ma túy cho G nhưng chưa kịp tiêu sài).
Tại Kết luận giám định số 4577 ngày 07/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Trong mẫu nước tiểu của Cao Anh T3 thu ngày 29/7/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine và ma túy loại Methamphetamine.
- Trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn L thu ngày 29/7/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine và ma túy loại Methadone, có chất MAM-6 và EDDP (Morphine, MAM-6 là chất chuyển hóa của chất ma túy Heroine và EDDP là chất chuyển hóa của chất ma túy Methadone trong cơ thể người).
Cáo trạng số: 163/CT-VKS ngày 17/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 đã truy tố Cao Anh T3 về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b Khoản 2 Điều 251 và điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; truy tố Lê Đình G về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Cao Anh T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Hành vi của Lê Đình G đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b Khoản 1 Điều 256a; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 đối với bị cáo Cao Anh T3.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đình G
Về hình phạt:
- Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Anh T3 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo Cao Anh T3 mức án từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đình G mức án từ 38 tháng đến 42 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
- Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 0,213 gam Heroine và 01 gói giấy (loại giấy vỏ thuốc lá Thăng Long).
- Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 máy tính bảng S (2016) thu giữ của Lê Đình G, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Cao Anh T3, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15 màu xanh tím than thu giữ của Hoàng Văn L.
- Đề nghị bị cáo Cao Anh T3 truy nộp, sung quỹ Nhà nước 500.000 đồng.
Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 26/7/2025, tại Thôn C, xã B, Hà Nội, bị cáo Cao Anh T3 có hành vi sử dụng trái phép ma túy Methamphetamine khi đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 28/3/2025 của UBND xã B, Hà Nội.
Hồi 11h40’ ngày 28/7/2025, tại khu vực đường G thuộc xã B, Hà Nội, bị cáo Lê Đình G có hành vi tàng trữ trái phép 0,213 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã B, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Ngày 28/7/2025, tại Thôn C xã B, Hà Nội, bị cáo Cao Anh T3 có hành vi bán trái phép ma túy Heroine cho Hoàng Văn L hưởng lợi 500.000 đồng, đồng thời bán trái phép 0,213 gam ma túy Heroine cho Lê Đinh G1.
Hành vi của bị cáo Cao Anh T3 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, bị cáo Lê Đình G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, các bị cáo cũng nhận thức đuợc hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song với nhu cầu và lợi ích của bản thân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật và cố tình vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng TNHS:
Xét nhân thân bị cáo Cao Anh T3: Bản án HSST số 57 ngày 27/6/2007, TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp trị giá 2.000.000 đồng). Đã nộp án phí HSST ngày 21/11/2007. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2009. Bản án HSST số 219 ngày 05/9/2014, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 34 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2017. Bản án HSST số 309 ngày 21/11/2019, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 14/8/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/2022. Theo luật định các Tiền án của bị cáo đã được xóa nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS nhưng được coi là có nhân thân xấu. Ngày 25/9/2024, đi cai nghiện tự nguyện 06 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội, đến 25/3/2025 về địa phương, theo luật định Tiền sự này của bị cáo chưa hết thời hiệu.
Xét nhân thân bị cáo Lê Đình G có 01 tiền sự: Ngày 11/3/2024, Công an huyện G, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 350.000 đồng theo luật định đã hết thời hiệu. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi và bổ sung 2025.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,213 gam Heroine là vât Nhà nước cấm lưu hành và 01 gói giấy (loại giấy vỏ thuốc lá Thăng Long).
- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 máy tính bảng S (2016) thu giữ của Lê Đình G, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Cao Anh T3, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15 màu xanh tím than thu giữ của Hoàng Văn L được sử dụng vào việc mua, bán ma túy.
- Buộc bị cáo Cao Anh T3 truy nộp, sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng là số tiền bị cáo hưởng lợi từ việc bán ma túy.
Đại diện VKSND khu vực 5 đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
[6] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho Cao Anh T3 ngày 25/7/2025 tại khu vực V, Hưng Yên, do T3 khai không biết đầy đủ họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ.
Đối với Hoàng Văn L không thuộc trường hợp quản lý người nghiện, quản lý sau cai nghiện, Công an xã B, Hà Nội đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 18/8/2025, TAND khu vực 5 - Hà Nội ra Quyết định số 21/2025/QĐ-TA xử lý hành chính đưa L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng.
[7] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Cao Anh T3 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Lê Đình G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b Khoản 1 Điều 256a; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt: bị cáo Cao Anh T3 07 năm 06 tháng (Bảy năm sáu tháng) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 02 năm 03 tháng (Hai năm ba tháng) tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, bị cáo phải chấp hành 09 năm 09 tháng (Chín năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2025. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Đình G 36 tháng (Ba mươi sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,213 gam Heroine và 01 gói giấy (loại giấy vỏ thuốc lá Thăng Long).
- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của Cao Anh T3 theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054168 ngày 28/10/2025 tại Kho bạc nhà nước KVI-PGĐ số 10 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 máy tính bảng S (2016) thu giữ của Lê Đình G, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng thu giữ của Cao Anh T3, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15 màu xanh tím than thu giữ của Hoàng Văn L.
(Hiện có tại chi cục Thi hành án dân sự khu vực 5 theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/10/2025)
- Buộc bị cáo Cao Anh T3 truy nộp số tiền 500.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - TAND - TP . Hà Nội; - VKSND - TP . Hà Nội; - PV06 – CA.TP. Hà Nội; - VKSND khu vực 5; - Phòng THADS - KV 5 – TP. Hà Nội; - Cơ quan THA.HS khu vực 5; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA. Nguyễn Minh Nam | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |