vanban.org

Bản án 228/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Lệ T.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Lệ T được ly hôn với anh Phạm Hiếu T 1 . Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Phan Thị Lệ T yêu cầu ly hôn với anh Phạm Hiếu T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Lệ T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-5-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Thanh Phong.

2. Ông Nguyễn Phúc Viễn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Ngô T1 Khánh Duy, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Lệ T, sinh năm 1984; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Phạm Hiếu T 1 , sinh năm 1978; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Lệ T trình bày:

Chị T và anh T 1 cưới nhau vào năm 2004 do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Phục Nhứt, theo số 74, ngày 26/7/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu Tẫn nguyên nhân là vợ chồng không hợp nhau về tính cách, không có tiếng nói chung, anh T 1 không phụ giúp chăm lo cho gia đình, anh T 1 đánh chị T. Vợ chồng đã cố hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị T xin ly hôn với anh T 1 .

- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thanh Minh P, sinh ngày 31/8/2005 đã trưởng T 1 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Phạm T 1 Đạt, sinh ngày 02/8/2007 hiện đang sống với chị T. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Đạt, không yêu cầu anh T 1 cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phạm Hiếu T 1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt nên không có thỏa Tận được về nội dung vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký tòa án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm chuẩn bị nghị án đều được tiến hành đúng theo trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

- Về quan điểm giải quyết vụ án, Kiểm sát viên nhận xét: Về hôn nhân: mâu Tẫn giữa chị T và anh T 1 là có thật, bởi lẽ hai anh chị đã có thời gian sống ly thân thời gian dài. Về con chung: chị T và anh T 1 có 02 con chung, cháu P đã trưởng T 1 , còn cháu Đạt hiện đang sống với chị T và việc chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con là phù hợp để đảm bảo cuộc sống của con. Chị T không yêu cầu anh T 1 cấp dưỡng nên đề nghị ghi nhận. Về tài sản chung nợ chung đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T và chị T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Lệ T có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Phạm Hiếu T 1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh T 1 .

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu nuôi con khi ly hôn và bị đơn đang cư trú tại ấp Bình Khương II, xã Bình Phục Nhứt, huyện C nên Tòa án xác định tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn và Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nội dung tranh chấp: Chị T cho rằng chị và anh T 1 có mâu Tẫn trầm trọng, không thể hàn gắn và tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T 1 . Về con chung, chị T và anh T 1 có 02 con chung và 01 cháu đã trưởng T 1 , còn 1 cháu đang sống với chị T nên chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T 1 cấp dưỡng. Về tài sản chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có.

Xét yêu cầu của chị T:

Về hôn nhân: Chị T và anh T 1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Phục Nhứt, huyện C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74 ngày 26/7/2004, nên căn cứ Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Theo Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa Tận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Tuy nhiên theo lời trình bày của chị T thì giữa chị T và anh T 1 mâu Tẫn nhiều năm, thời gian kéo dài. Đồng thời, chị T và anh T 1 hiện đã không còn sống chung với nhau từ năm 2016 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T 1 và triệu tập anh T 1 nhiều lần đến Tòa để hòa giải, tại phiên tòa hôm nay anh T 1 cũng vắng mặt. Điều đó thể hiện anh T 1 không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu Tẫn giữa chị T và anh T 1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn là có cơ sở phù hợp khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

- Chị T và anh T 1 có 02 con chung là Phạm Thanh Minh P, sinh ngày 31/8/2005 đã trưởng T 1 và Phạm T 1 Đạt, sinh ngày 02/8/2007. Hiện cháu Đạt đang sống cùng chị T và đã ổn định cuộc sống cũng như việc học tập từ khi chị T và anh T 1 không còn sống chung. Đồng thời, cháu Đạt có nguyện vọng sống cùng chị T. Do đó, chị T yêu cầu nuôi con là phù hợp Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T 1 cấp dưỡng, đây là sự tự nguyện của chị T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ: Chị T xác định không có và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức T, miễn giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 8, 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức T, miễn giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Lệ T.

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Lệ T được ly hôn với anh Phạm Hiếu T 1 .

- Về con chung:

+ Giao con tên Phạm T 1 Đạt, sinh ngày 02/8/2007 cho chị Phan Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Anh T 1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

+ Về cấp dưỡng: Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T 1 cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí:

- Chị Phan Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai T số 0008527 ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T 1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ