- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê Tr1 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228/2024/HS-ST Ngày: 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Nguyễn Hà H2.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lý.
2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 214/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Tr1, Giới tính: Nam, Tên gọi khác: không. Sinh ngày M, tại: Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số N đường B, Phường 13, Quận V, Thành phố H. Chỗ ở: số C Ấp X, xã Z, huyện A, Thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Mạnh Tr1, sinh năm S; Mẹ: Lê Thị H2 sinh năm F. Vợ: Chưa có. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019. Nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc Thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án phúc thẩm số 1014/HSPT ngày 28/6/2002. Nguyễn Lê Tr1 chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/01/2010 (Đã xóa án tích). Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam ngày 10/3/2024 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 09/3/2024, Tổ công tác 363 Công an quận Gò Vấp phối hợp cùng Công an Phường 17, quận Gò Vấp tuần tra đến trước địa chỉ số P đường O, Phường I, quận U, Thành phố H phát hiện Huỳnh Văn H2 điều khiển xe gắn máy biển số **M* – **** chở Nguyễn Lê Tr1 ngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của Tr1 đang mặc có 01 nỏ thuỷ tinh và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, Tr1 khai là ma tuý được cất giấu trong ốp lưng điện thoại màu đen có in chữ NIKE màu trắng của Tr1 nên Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, đưa Tr1 về Công an Phường 17, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra xác định khoảng 22 giờ ngày 09/3/2024, Nguyễn Lê Tr1 đang ở tại nhà tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thì dùng điện thoại di động số 083****122 gọi đến số 093****965 cho Huỳnh Văn H2 để rủ đi nhậu và nhờ H2 chở đi công việc thì H2 đồng ý. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, H2 điều khiển xe gắn máy biển số **M*-**** đến chở Tr1 đi nhậu. Sau khi nhậu xong, Tr1 nhờ H2 chở đến khu vực gần Nhà văn hóa thiếu nhi quận Gò Vấp (không rõ địa chỉ cụ thể) gặp một nam thanh niên tên Phải (không rõ lai lịch). Lúc này, Tr1 kêu H2 dừng xe để Tr1 đến trả tiền nợ cho người quen thì H2 dừng xe lại. Tr1 xuống xe đi bộ cách chỗ H2 đứng đợi khoảng 03 mét gặp Phải và hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp thì Phải đồng ý bán. Tr1 đưa tiền cho Phải và nhận 01 (một) gói nylon chứa ma túy. Sau đó, Tr1 cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong ốp lưng điện thoại màu đen có in chữ NIKE rồi bỏ vào trong túi quần trước bên trái Tr1 đang mặc và lên xe của H2 đi về. Trên đường đi đến khu vực ngã tư đường Nguyễn Oanh và Lê Đức Thọ, quận Gò Vấp, Tr1 nói H2 ghé vào chỗ bán thuốc lá trên vỉa hè để mua thuốc lá. H2 dừng xe để Tr1 xuống đi bộ vào chỗ bán thuốc lá và mua một nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. Nỏ thủy tinh này Tr1 cất giấu vào trong túi quần trước bên trái của Tr1 đang mặc rồi lên xe để H2 đi về. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi H2 đang điều khiển xe gắn máy chở Tr1 đến trước địa chỉ số 470 đường Lê Đức Thọ, Phường 17, quận Gò Vấp thì bị Tổ công tác 363 Công an quận Gò Vấp phối hợp với Công an phường 17, quận Gò Vấp yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện bắt quả tang đối với Tr1 như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: tinh thể không màu có khối lượng 0,2265 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra.
- 01 (một) nỏ thủy tinh chưa qua sử dụng.
-01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, không có gắn sim (bị hỏng màn hình);
Toàn bộ số vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 73/PNK ngày 09/4/2024.
Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" do bị cáo Nguyễn Lê Tr1 thực hiện. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 09/3/2024, Nguyễn Lê Tr1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2674 gam (không phẩy hai sáu bảy bồn gam), loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân tại trước địa chỉ số P đường O, Phường I, quận U, Thành phố H thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải có biện pháp răn đe, giáo dục và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp.
Đối với Huỳnh Văn H2 không biết Tr1 mua ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý, H2 cũng không góp tiền mua ma tuý với Tr1 nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
Đối với đối tượng tên “Phải” đã bán ma túy cho Tr1 do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 230/CT-VKS-GV ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Lê Tr1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Tr1 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ; 01 nỏ thủy tinh.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu hiệu Samsung bể màn hình không có sim, đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm tội quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 09/3/2024, Nguyễn Lê Tr1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2674 gam (không phẩy hai sáu bảy bồn gam), loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân tại trước địa chỉ số P đường O, Phường I, quận U, Thành phố H thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 230/CT-VKS-GV ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, bị cáo bản thân có nhân thân xấu từng vi phạm pháp luật nhưng nay vẫn vi phạm. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập để học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không có.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với ma túy thu giữ qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 nỏ thủy tinh là công cụ để sử dụng ma túy Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu samsung bị bể màn hình không gắn sim là là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với Huỳnh Văn H2 không biết Tr1 mua ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý, H2 cũng không góp tiền mua ma tuý với Tr1 nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
Đối với đối tượng tên “Phải” đã bán ma túy cho Tr1 do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Tr1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/3/2024.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Tr1 và hình dấu Công an Phường 17, quận Gò Vấp. Bên trong còn ma túy giám định;
+ 01 (một) nỏ thủy tinh.
- Đối với điện thoại thu giữ qua điều tra xác định bị cáo không dùng điện thoại vào việc phạm tội nên hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung bị bể màn hình không gắn sim và đã qua sử dụng.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 73/PNK ngày 09/4/2024 của Công an quận Gò Vấp)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Nguyễn Hà H2 |